|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2024/HS - ST Ngày 11 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Như Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đình Thắng
Ông Nguyễn Văn Bẩy
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tham gia phiên tòa: Ông Vũ Huy Long và ông Vũ Văn Tấp - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2024/TLST - HS ngày 10 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2024/HSST - QĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Đức K, sinh ngày: 31/10/1983, tại U, Quảng Ninh; nơi cư trú: khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức C và bà Bùi Thị T; vợ: Nguyễn Thị T1; con: có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: chưa; bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ ngày 29/01/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Đinh Văn L, sinh ngày: 05/9/1994, tại U, Quảng Ninh; nơi cư trú: khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn L1 và bà Nguyễn Thị L2; vợ, con: chưa có; tiền án: chưa; tiền sự: ngày 12/6/2023, Công an phường T, thành phố U xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi "Đánh bạc", ngày 14/6/2023 chấp hành xong quyết định; ngày 05/01/2024, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng, hiện chưa thi hành; nhân thân: ngày 03/3/2021, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 06 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích", ngày 25/5/2021, chấp hành xong bản án;
- ngày 15/8/2014, Công an phường P, thành phố U xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi "Trộm cắp tài sản"; ngày 22/11/2015, Công an thành phố U xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi "Đánh nhau"; bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ ngày 29/01/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Đỗ Văn Đ, sinh ngày: 21/6/1975, tại Đ, Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn X và bà Lê Thị Ú; vợ: Nguyễn Thị L3; con: có 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: chưa; nhân thân: ngày 13/01/2012, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 06 tháng 13 ngày tù, về tội "Cưỡng đoạt tài sản"; bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ ngày 29/01/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Đức C; địa chỉ: khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; có mặt
- * Người chứng kiến: bà Trần Thị M; vắng mặt
- * Người làm chứng: anh Hồ Đình L4; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 28/01/2024, Nguyễn Đức K gọi điện thoại cho Đinh Văn L rủ đi mua ma túy về cùng sử dụng và K sẽ chi 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) để mua ma túy, L đồng ý. Do không biết địa điểm mua ma túy nên L gọi điện thoại hỏi và rủ Đỗ Văn Đ tham gia cùng. Đến đồng ý và gọi điện thoại cho một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) hỏi mua ma túy thì người bán hẹn đến ngõ gần Trường tiểu học xã H, thị xã Đ để giao dịch. Ngay sau đó, K điều khiển xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI VITARA biển kiểm soát 14A-137.04 đến đón L và Đ đi đến điểm hẹn. K và L chờ ở bên ngoài, còn Đ cầm tiền do K đưa, đi vào bên trong ngõ gặp và mua của người đàn ông 01 túi ma túy với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, thấy không có bộ đồ sử dụng ma túy nên Đ bảo K chở về nhà Đ lấy bộ đồ sử dụng ma túy mà Đến nhặt được trước đó và cất giấu ở nhà. Tiếp theo, Đến chỉ dẫn K điều khiển xe ô tô đi đến khu vực nghĩa trang N thuộc thôn T, xã H, thị xã Đ, thì dừng lại, đồng thời đưa bộ đồ sử dụng và túi ma túy mua được cho L. Cả 3 vẫn ngồi trên xe ô tô, L lắp ráp bộ đồ, pha chế ma túy và hơ lửa dưới bầu ống thủy tinh đưa cho Đ, K rồi đến L lần lượt sử dụng, mỗi người sử dụng khoảng 3 đến 4 lần thì hết ma túy. Sau đó, L tháo các bộ phận của bộ đồ sử dụng ma túy ra, cho cóng vào hộp nhựa, rồi cả ba tiếp tục ngồi trên xe ô tô đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, thì bị Tổ công tác của Công an thị xã Đ kiểm tra hành chính, đã phát hiện thu giữ trên xe ô tô: 01 (một) chai nhựa màu trắng nhãn hiệu Nutri boost, nắp chai được đục 02 (hai) lỗ, 01 (một) lỗ cắm ống hút; 01 (một) hộp nhựa bên trong đựng 01 (một) ống thủy tinh có 01 (một) đầu hình bầu tròn, trong ống bám dính chất màu đen (kí hiệu M1); 01 (một) bật lửa ga; 01 (một) túi nilon kích thước (2x2,5)cm bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M2). Ngoài ra còn tạm giữ của L 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG gắn sim số 0869.487.438; tạm giữ của K 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG gắn sim số 0346.164.668; tạm giữ của Đến 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6 gắn sim số 0982.206.275 (Bút lục số 22).
Căn cứ tài liệu điều tra, ngày 29/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Đức K, Đinh Văn L và Đỗ Văn Đ.
Tại các bản Kết luận giám định số 222, 223 ngày 02/02/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận:
- Mẫu vật kí hiệu M1, M2 gửi giám định là ma túy; loại: Methamphetamine, dạng vết không xác định được khối lượng.
- Tìm thấy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Đức K, Đinh Văn L và Đỗ Văn Đ (Bút lục số 110, 111).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Đức K, Đinh Văn L và Đỗ Văn Đ đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Ngoài ra, tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Đức K khai: do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên bị cáo đã gọi điện rủ L sử dụng ma tuý cùng, bị cáo sẽ đưa tiền cho L để L tìm chỗ mua ma tuý. Sau khi rủ được L đi mua ma tuý đá, bị cáo đến nhà bố bị cáo và hỏi mượn chiếc xe ô tô BKS 14A – 137.04 để đi đón L. Bị cáo nói với bố bị cáo mượn xe đi có việc. Sau đó, bị cáo điều khiển chiếc xe đón L rồi cùng đi đến xã H thị xã Đ đón thêm Đỗ Văn Đ để đi mua ma tuý. Khi Đến mua được ma tuý, do không có bộ đồ sử dụng nên bị cáo chở Đ về nhà lấy bộ đồ và cả nhóm sử dụng ma tuý trong xe của bị cáo. Bị cáo ngồi ở ghế lái, Đến ngồi ở ghế sau ngay sau ghế lái còn L thì ngồi ở ghế sau bên phụ. Đây là lần đầu tiên bị cáo sử dụng ma tuý trong xe của bố bị cáo. Bị cáo mượn xe liên quan đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, bố bị cáo không biết vì bị cáo khi mượn xe chỉ nói là đi có việc.
Bị cáo Đinh Văn L khai: khoảng 20 giờ ngày 28/01/2024, khi bị cáo đang ở nhà thì bị cáo K gọi điện cho bị cáo hỏi có mua được đồ không (ma tuý M1), bị cáo gọi điện cho Đ để Đến mua 500.000 đồng ma tuý cùng sử dụng. Sau khi Đ trả lời mua được ma tuý và bảo bị cáo đến đón, bị cáo gọi K và cùng đi đón Đến. Lên xe Đến chỉ đường cho K chở lên khu vực xã H, khu vực ngõ cạnh trường học. K đưa cho Đến tờ tiền mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), Đ cầm tiền đi vào ngõ khoảng 5 phút sau cầm ma tuý đi ra. Bị cáo hỏi Đến có bộ đồ sử dụng ma tuý không, Đ nói về nhà Đến để lấy. Lấy được bộ đồ sử dụng ma tuý, Đ chỉ đường cho K điều khiển xe ô tô đến khu vực nghĩa trang T2, xã H, thị xã Đ để sử dụng ma tuý. Đến nơi, K đỗ xe vào vệ đường và tắt động cơ. Lúc này Đ lấy bộ sử dụng ma tuý trong túi bóng đen ra, bị cáo lắp ráp các bộ phận lại với nhau thành bộ sử dụng ma tuý đá. Đến đưa ma tuý vừa mua cho bị cáo, bị cáo cho toàn bộ số ma tuý vào trong bầu ống thuỷ tinh rồi dùng bật lửa hơ nhẹ dưới đáy ống thuỷ tinh đưa cho Đ sử dụng đầu tiên, Đến hút xong thì bị cáo tiếp tục châm cho K hút, sau đó bị cáo mới mới tự châm cho mình hút. Mỗi người được khoảng 04 lần khói ma tuý, ngồi trên xe nói chuyện khoảng 05 phút thì bị lực lượng công an đến kiểm tra, lập biên bản và đưa về trụ sở để làm việc.
Bị cáo Đỗ Văn Đ khai: do bị cáo có biết người bán ma tuý, nên khi L gọi nhờ bị cáo mua ma tuý để dùng sử dụng thì bị cáo đã liên hệ với người bán ma tuý và hỏi mua 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) ma tuý. Sau đó, L và thanh niên lái xe đến đón bị cáo (sau này bị cáo mới biết tên là K). Bị cáo chỉ đường cho K chở đến địa điểm mua ma tuý. Do không có dụng cụ sử dụng ma tuý, L hỏi bị cáo và bị cáo bảo K chở về nhà lấy bộ sử dụng ma tuý để trong túi bóng đen ở rãnh cửa xếp trước nhà bị cáo. Bị cáo đưa ma tuý vừa mua được cho L, L lắp bộ đồ sử dụng, cho ma tuý vào bầu thuỷ tinh rồi hơ lửa cho bị cáo, K và L lần lượt sử dụng. Các bị cáo sử dụng được khoảng 4 lần thì ngồi chơi nói chuyện, sau đó bị lực lượng công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Người chứng kiến bà Trần Thị M vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra: khoảng 21 giờ 30 phút ngày 28/01/2024, bà được Cơ quan công an thị xã Đông Triều mời bà tham gia chứng kiến kiểm tra hành chính một xe ô tô đỗ tại khu vực nghĩa trang T3 thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Lúc này, trên xe có 03 nam thanh niên có biểu hiện không tỉnh táo, sử dụng trái phép chất ma tuý. Cơ quan Công an đã thu giữ tại xe ô tô 01 (một) hộp nhựa, bên trong có các dụng cụ để sử dụng ma tuý, điện thoại của các bị cáo đưa toàn bộ những người trên về trụ sở.
Tại Cáo trạng số: 914/CT- VKSĐT ngày 06 - 6 - 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố các bị cáo Nguyễn Đức K, Đinh Văn L và Đỗ Văn Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự;
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn L từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29 tháng 01 năm 2024.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức K từ 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29 tháng 01 năm 2024.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn Đ từ 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29 tháng 01 năm 2024.
- - Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu cho tiêu huỷ 01 (một) gói niêm phong số 222/KL - KTHS ngày 22/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q; 01 (một) chai nhựa màu trắng nhãn hiệu Nutri boots, có nắp chai đã được đục 02 lỗ, một lỗ cắm ống hút nhựa; 01 (một) hộp nhựa (loại hộp đựng kính), màu đen; 01 (một) bật lửa màu đỏ; các sim số: 0982.206.275; 0346.164.668; 0869.487.438
- + Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu xanh của bị cáo Đỗ Văn Đ; 02 (hai) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen của các bị cáo Nguyễn Đức K và Đinh Văn L.
- Lưu kèm hồ sơ vụ án 03 (ba) đĩa DVD ghi âm hỏi cung các bị cáo Nguyễn Đức K, Đinh Văn L và Đỗ Văn Đ
Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc định tội đối với các bị cáo: lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến với biên bản kiểm tra hành chính do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Đ, lập hồi 21 giờ 30 phút ngày 28/01/2024 tại thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, với biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, biên bản xác định hiện trường, bản ảnh kèm theo biên bản xác định hiện trường, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, với vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 21 giờ 30 phút ngày 28/01/2024, tại thôn T, xã H, thị xã Đ, Nguyễn Đức K, Đinh Văn L và Đỗ Văn Đ có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, thì bị phát hiện, thu giữ vật chứng.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Đức K, Đinh Văn L và Đỗ Văn Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Các bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, biết hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, cung cấp chất ma túy cho người khác sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội.
[3] Xét về vai trò của các bị cáo trong vụ án:
Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo Nguyễn Đức K là người khởi xướng, cung cấp tiền mua ma túy; bị cáo Đinh Văn L là người thực hành tích cực, sau khi K rủ sử dụng ma tuý L đã gọi điện cho Đ nhờ mua ma tuý, rủ Đến cùng sử dụng ma tuý và pha chế ma túy cho các bị cáo Đ, K sử dụng; bị cáo Đỗ Văn Đ đi mua ma tuý, cung cấp bộ đồ sử dụng ma tuý nên các bị cáo K, L và bị cáo Đ có vai trò tương đương nhau trong vụ án.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân: bị cáo Nguyễn Đức K không có tiền án, tiền sự. Bị cáo Đỗ Văn Đ ngày 13/01/2012, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 6 tháng 13 ngày tù, về tội "Cưỡng đoạt tài sản", đã chấp hành xong. Bị cáo Đinh Văn L có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt hành chính, có 02 tiền sự: ngày 12/6/2023 Công an phường T xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi “Đánh bạc”, ngày 14/6/2023 chấp hành xong quyết định; ngày 05/01/2024, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 (mười lăm) tháng, hiện chưa thi hành.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Đức K có ông ngoại Bùi Huy Đ1 là người có công với cách mạng và được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương; bị cáo Đỗ Văn Đ có bố đẻ Đỗ Văn X được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, mẹ đẻ Lê Thị Ú được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, bản thân bị cáo đã từng phải điều trị bệnh nhồi máu não, liệt nửa người nên các bị cáo K, Đ đến được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo cũng như những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, buộc các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Các bị cáo Nguyễn Đức K và Đỗ Văn Đ Bị có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo Đinh Văn L có nhân thân rất xấu, vì vậy bị cáo Đinh Văn L phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo Nguyễn Đức K và Đỗ Văn Đ.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 (một) chai nhựa; 01 (một) hộp nhựa; 01 (một) bật lửa và 03 (ba) sim điện thoại không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
- - 03 (ba) chiếc điện thoại liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[6] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước. Xét các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Về các vấn đề khác:
Liên quan trong vụ án có người đàn ông bán ma túy cho Đỗ Văn Đ, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI VITARA biển kiểm soát 14A-137.04, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của ông Nguyễn Đức C (bố đẻ của K), ông C không biết K sử dụng xe ô tô vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông C, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Lưu kèm hồ sơ vụ án 03 (ba) đĩa DVD ghi âm hỏi cung các bị cáo Nguyễn Đức K, Đinh Văn L và Đỗ Văn Đ.
[8] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt:
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Đinh Văn L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Đinh Văn L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29 tháng 01 năm 2024.
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức K 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29 tháng 01 năm 2024.
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Đỗ Văn Đ 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29 tháng 01 năm 2024.
- Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu cho tiêu huỷ 01 (một) gói niêm phong số 222/KL - KTHS ngày 22/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q; 01 (một) chai nhựa màu trắng nhãn hiệu Nutri boots, có nắp chai đã được đục 02 lỗ, một lỗ cắm ống hút nhựa; 01 (một) hộp nhựa (loại hộp đựng kính), màu đen; 01 (một) bật lửa màu đỏ; các sim số: 0982.206.275; 0346.164.668; 0869.487.438
- + Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu xanh của bị cáo Đỗ Văn Đ; 02 (hai) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen của các bị cáo Nguyễn Đức K và Đinh Văn L.
(Số vật chứng, tài sản trên có tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 94 ngày 10 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh).
- Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Nguyễn Đức K, Đinh Văn L và Đỗ Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Như Quỳnh |
Bản án số 59/2024/HS - ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 59/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức K cùng đp
