Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày 11-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa

Ông Lưu Văn Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Quốc C, sinh ngày 11 tháng 01 năm 1986 tại Cà Mau; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp N, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ văn hóa: 4/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Phạm Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; vợ Đỗ Thị T1; con có 02 người, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không; Về nhân thân: Ngày 08/3/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tại Bản án số 11/2018/HSST (đã xóa án tích); Ngày 01/02/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 03/2024/HS-ST (Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam K1); có mặt tại phiên tòa.
  2. Võ Văn T2, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1991 tại Cà Mau; CCCD [...]; Nơi thường trú: ấp Ông T3, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau; Nơi ở hiện tại: ấp B, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Võ Văn T4 và bà Nguyễn Thị T5; chưa có vợ con; tiền sự: không; Tiền án: Ngày 18/9/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 28/2019/HSST (chưa xóa án tích do chưa chấp hành nghĩa vụ án phí)); Về nhân thân: Ngày 01/02/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 03/2024/HS-ST (Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam K1); có mặt tại phiên tòa.
  3. Nguyễn Trung T6, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1987 tại Cà Mau; CCCD [...]; Nơi thường trú: ấp C, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau; Nơi ở hiện tại: ấp C, xã L, huyện N, Cà Mau; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn P và bà Tô Thị B; vợ (đã ly hôn); có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 01/02/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau xử phạt 06 tháng 18 ngày tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 03/2024/HS-ST (đã chấp hành xong bản án về hình phạt tù); Bị cáo hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  4. Phan Văn K, sinh ngày 04 tháng 01 năm 1993 tại N, Cà Mau; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp C, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: làm biển; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Phan Văn H1 và bà Dương Thị Ngọc S; vợ: Tô Thị Thảo Q; con có 02 người, sinh năm 2016 và năm 2022; Tiền án; tiền sự: không; Bị cáo hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Hồ Văn T7, sinh năm 1967. Địa chỉ: ấp A B, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân, nên bị can Phạm Quốc C1 và bị can Võ Văn T2 rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Khoảng 22 giờ ngày 02/5/2023, bị can C1 và bị can T2 cùng nhau chạy vỏ máy Composite hiệu Chí Vĩnh dài 5m9, đặt máy xăng hiệu Honda 22Hp đi theo hướng từ đường bờ kè ven biển từ Cà Mau đến huyện A, tỉnh Kiên Giang để tìm tài sản là vỏ máy để trộm cắp. Đến khoảng 01 giờ ngày 03/5/2023, bị can C1 và bị can T2 điều khiển vỏ máy vào kênh xáng thuộc ấp A B, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, lúc này hai bị can quan sát thấy vỏ Composite dài 9m2 hiệu Vạn Nam đặt máy Isuzu 93 của ông Hồ Văn T7, sinh năm 1967; HKTT: ấp A B, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang đang đậu dưới sông, không có người trông coi, bị can C1 tắt máy bơi vỏ lại gần vỏ máy của ông T7 để bị can T2 bước qua vỏ của ông T7 mở dây buộc vỏ, hai bị can kéo vỏ của ông T7 ra biển rồi khởi động máy điều khiển chạy về huyện N, tỉnh Cà Mau, đậu vỏ máy ngoài biển để không bị phát hiện. Khoảng 10 ngày sau, bị can Võ Văn T2Phạm Quốc C1 gặp bị can Phan Văn K và bị can Nguyễn Trung T6 kêu bán lại vỏ máy lấy trộm được của ông T7, bị can T6 và bị can K biết rõ bị can T2 và bị can C1 là dân trộm cắp tại địa phương, kêu bán nhiều vỏ máy, tài sản nhưng nhiều người dân địa phương không dám mua, nhưng thấy vỏ máy mà bị can C1 và bị can T2 kêu bán giá thấp hơn nhiều so với giá thị trường, nên mặc dù biết vỏ máy trên là tài sản trộm cắp nhưng bị can T6 và bị can K vẫn đồng ý hùn tiền mua lại vỏ máy trên với giá 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng). Sau khi mua vỏ máy do bị can T2 và bị can C1 bán, bị can T6 và bị can K mang chiếc vỏ đi bán lại cho ông Nguyễn Hoàng V với giá 10.500.000 đồng rồi mua lại chiếc vỏ hiệu Trọng Sỹ dài 9m2 với giá 28.000.000 đồng, sau đó bị can T6 đặt cái máy Isuzu 93 mua được từ bị can T2 và bị can C1 qua chiếc vỏ mới mua điều khiển đi cào sò trên biển thì bị phát hiện.

Tại Cơ quan điều tra bị can Phạm Quốc C1 và bị can Võ Văn T2 thừa nhận toàn bộ hành vi cùng nhau lấy trộm vỏ Composite dài 9m2 hiệu Vạn Nam đặt máy Isuzu 93 của ông Hồ Văn T7 mang về bán lấy tiền tiêu xài. Bị can Phan Văn K và bị can Nguyễn Trung T6 thừa nhận biết vỏ máy trên là do bị can C1 và bị can T2 trộm cắp mà có được nhưng vẫn đồng ý mua, do thấy giá rẻ hơn nhiều so với giá thị trường.

Tại bản Kết luận về việc định giá tài sản số: 22/KL-HĐĐGTS ngày 12/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A kết luận: 01 (Một) vỏ Composite dài 9m2 hiệu Vạn Nam có giá trị 8.000.000 đồng; 01 (Một) máy I có giá trị 55.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản cần định giá là 63.000.000 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A đã tạm giữ: 01 máy Isuzu 93, sau khi phục vụ công tác điều tra và định giá tài sản đã trả lại cho bị hại là ông Hồ Văn T7.

Về trách nhiệm dân sự, Người bị hại là ông Hồ Văn T7 đã nhận lại 01 (Một) máy Isuzu 93 và đã thoả thuận với bị can Phan Văn K và bị can Nguyễn Trung T6 nhận lại chiếc vỏ hiệu Trọng Sỹ dài 9m2 và không có yêu cầu gì khác.

Tại Cáo trạng số 29/CT-VKS-AM ngày 19-3-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Phạm Quốc CườngVõ Văn Tý về tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Trung T6Phan Văn K về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

  • - Kiểm sát viên kết luận bị cáo Phạm Quốc C1, Võ Văn T2 phạm tội trộm cắp tài sản; bị cáo Nguyễn Trung T6, Phan Văn K phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và đề nghị:
  • + Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Quốc C1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
  • + Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn T2 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T6 từ 03 đến 05 tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn K từ 03 đến 05 tháng tù.
  • Về vật chứng, đã giao trả lại cho bị hại nên đề nghị không xem xét; về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét; về biện pháp tư pháp xử lý theo quy định.
  • - Các bị cáo C1, T2, T6K thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng và luận tội đã nêu. Trong lời nói sau cùng các bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
  • - Bị hại: đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bồi thường gì thêm; về trách nhiệm hình sự đề nghị xử lý theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 01 giờ, ngày 03/5/2023 tại ấp A B, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Phạm Quốc C1Võ Văn T2 đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 01 chiếc vỏ Composite màu xanh trắng, dài 9,2m, hiệu Vạn Nam và 01 máy Isuzu 93 của ông Hồ Văn T7 định giá có tổng giá trị là 63.000.000 đồng. Khoảng 10 ngày sau khi các bị cáo C1T2 lấy trộm vỏ máy của ông T7 thì đem bán lại cho Phan Văn KNguyễn Trung T6 với số tiền 35.000.000 đồng, khi mua vỏ máy Khải và T6 biết đây là tài sản các bị cáo C1T2 trộm cắp của người khác mà có nhưng vẫn đồng ý mua.
  3. Về tội danh:
    1. Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Phạm Quốc C1 và Võ Văn T2 phạm tội Trộm cắp tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật. Bởi lẽ:

      Hành vi phạm tội của các bị cáo T2C1 là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại; khi thực hiện hành vi, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; có khả năng nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; bị cáo C1T2 đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, cùng nhau thực hiện hành vi lén lút để chiếm đoạt tài sản của bị hại; tài sản có giá trị trên 2.000.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo C1T2 đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự.

      Về định khung hình phạt: Các bị cáo cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên là đồng phạm nhưng chỉ mức độ giản đơn, trước khi thực hiện hành vi không bàn bạc hay phân công nhiệm vụ gì, cùng nhau thực hành, sau đó bán lấy tiền chia nhau tiêu xài nên không phải là phạm tội có tổ chức. Tuy nhiên, tài sản các bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị là 63.000.000 đồng, đây là tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

    2. Hành vi phạm tội của các bị cáo K và T6 là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và gián tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại; khi thực hiện hành vi, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo KT6 biết được tài sản bị cáo C1T2 có được là do trộm cắp nhưng vẫn đồng ý mua nên là hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; tài sản các bị cáo tiêu thụ theo định giá có tổng giá trị là 63.000.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Phan Văn KNguyễn Trung T6 phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
  4. Về hình phạt:
    1. Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo T2 đã bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ án phí hình sự nên chưa được xóa án tích. Bị cáo tiếp tục phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự và phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo C1 tuy đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích; bị cáo C1, T6 bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau xử phạt tù về tội Trộm cắp tài sản vào ngày 01/02/2024 (xử phạt sau khi bị cáo đã phạm tội) nên không chịu tình tiết tăng nặng tái phạm. Đối với bị cáo K phạm tội lần đầu nên không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

      Tuy nhiên, hành vi của các bị cáo gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây tâm lý lo lắng, bất an trong nhân dân. HĐXX cần xử phạt các bị cáo hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội các bị cáo đã gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

    2. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo C1, T2, T6, K thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo T6K tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại; bị cáo K phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có thân nhân là người có công với cách mạng. Do đó, các bị cáo C1T2 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo T6 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo K được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
    3. Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy bị cáo C1T2 có nhân thân xấu, đã bị kết án nhưng không sửa chữa sai phạm mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; hành vi của các bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật và gây bức xúc trong nhân dân; bị cáo T6 ngoài lần phạm tội này còn phạm tội và bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xử phạt tù; tài sản các bị cáo chiếm đoạt và tiêu thụ tương đối lớn. HĐXX thấy cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn.

      Khi quyết định mức hình phạt thấy các bị cáo C1, T2 liên tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử phạt nghiêm khắc; bị cáo T2 có 01 tình tiết tăng nặng nên xử phạt cao hơn bị cáo C1; bị cáo T6K chỉ nhất thời phạm tội nên chỉ cần xử phạt ở mức đầu khung hình phạt bị truy tố, xét xử là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo.

      HĐXX nhận thấy bị cáo K mới phạm tội lần đầu, từ trước đến nay chưa có tiền án, tiền sự; đã khắc phục hậu quả cho bị hại; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, việc không buộc bị cáo chấp hành hình phạt tập trung không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự nên HĐXX áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

    4. Về tổng hợp hình phạt, bị cáo T2C1 đang chấp hành hình phạt tù theo bản án của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Do hành vi của các bị cáo đang bị xét xử được thực hiện trước khi có Bản án đang chấp hành nên Tòa án quyết định hình phạt với tội đang xét xử, sau đó hình phạt được tổng hợp theo khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự. Thời điểm chấp hành hình phạt chung sẽ được tính từ ngày bị cáo đã bị bắt giữ về tội đang thi hành án. Bị cáo T6 đã chấp hành xong Bản án nên không tổng hợp.
  5. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo T6K đã bồi thường xong cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
  6. Về biện pháp tư pháp, 01 máy Isuzu 93 cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao trả lại bị hại ông T7 nhận nên không xem xét.
  7. Về án phí, bị cáo C1, T2, T6K mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quốc C1Võ Văn T2 phạm tội Trộm cắp tài sản.
    1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Quốc C1 02 (hai) năm tù về tội Trộm cắp tài sản.

      Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của bản án sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

      Buộc bị cáo Phạm Quốc C1 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 (năm) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 05/4/2023.

    2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn T2 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

      Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của bản án sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

      Buộc bị cáo Võ Văn T2 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 05/4/2023.

  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T6Phan Văn K phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
    1. Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T6 06 (sáu) tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
    2. Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn K 06 (sáu) tù, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 11-7-2024) về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

      Giao cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau giám sát, giáo dục người được hưởng án treo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

      Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về trách nhiệm dân sự, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xét.
  4. Về biện pháp tư pháp: không phát sinh.
  5. Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Phạm Quốc C1, Võ Văn T2, Nguyễn Trung T6Phan Văn K mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 11-7-2024)./.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Toà án tỉnh KG;
  • - Cơ quan THAHS huyện AM;
  • - Cơ quan THADS huyện AM;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Sở TP tỉnh KG;
  • - Công an huyện, tỉnh;
  • - UBND xã Lâm Hải, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau
  • - UBND xã Viên An, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Quốc C và đòng bọn trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger