TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày 10-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Minh Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Duyên và bà Hoàng Thị Hanh
- Thư ký phiên toà: Bà Khổng Phương Thùy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên toà: Bà Chu Thị Việt Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với:
Bị cáo: Nguyễn Văn H (tên gọi khác: H1), sinh năm 1991 tại xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H2 và bà Nguyễn Thị H3; vợ: Đinh Thị L, con: Có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 23/2016/HSST ngày 27/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương xử bị cáo Nguyễn Văn H 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 01/7/2018 chấp hành xong trở về địa phương, tháng 07/2016, nộp 200.000đồng án phí. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Thanh H4, sinh năm 1984, địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị N, sinh năm 1986, địa chỉ: T, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt
- Người làm chứng:
+ Chị Vàng Thị B, sinh năm 1982, địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt
+ Anh Bùi Trịnh T (tên gọi khác: B1), sinh năm 1988, địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Nguyễn Thanh H4 và chị Vàng Thị B đều là người đã có gia đình nhưng có quan hệ tình cảm với nhau. Do không muốn tiếp tục quan hệ tình cảm với anh H4 nữa nên buổi tối ngày 27/11/2023, chị B hẹn gặp H4 tại quán cà phê Cầu V Tím địa chỉ tại tổ dân phố P, thị trấn H, huyện T do chị Lê Thị N làm chủ để giải quyết. Quá trình nói chuyện, anh H4 không đồng ý chấm dứt quan hệ tình cảm với chị B. Chị B đã gọi điện thoại cho Nguyễn Văn H nhờ H đến nói chuyện giúp chị B, vì trước đó ngày 26/11/2023 anh H4 đã gửi một số hình ảnh, video quan hệ tình dục giữa anh H4 và chị B cho H gây ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình H. Khi đến quán C, Nguyễn Văn H rủ anh Bùi Trịnh T đi cùng và vào ngồi cùng bàn với chị B, anh H4 để nói chuyện. Tại đây, H gọi thêm Nguyễn Anh Đ, sinh năm 1994, HKTT: tổ dân phố L, thị trấn H, huyện T đến uống nước. Được khoảng 10 phút, Đ cùng 01 nam thanh niên (không rõ lai lịch) đến và ngồi vào bàn uống nước nói chuyện cùng thì anh T đi ra ngoài hút thuốc. Trong quá trình nói chuyện giữa H và anh H4 đã xảy ra mâu thuẫn, xích mích, to tiếng, chửi nhau về việc anh H4 gửi video quan hệ tình dục giữa anh H4 và chị B cho Nguyễn Văn H. Do bực tức nên H đứng đối diện với H4, tay phải cầm 01 chiếc cốc thủy tinh, dạng hình trụ, kích thước (10x5)cm đặt trên mặt bàn, ném thẳng vào vùng mặt của anh H4. Hậu quả anh H4 bị thương tích tại vùng mặt, chảy nhiều máu, phải đi điều trị tại Trung tâm y tế huyện T và Bệnh viện Đa khoa tỉnh V. Sau đó, anh H4 đã trình báo Công an huyện T đề nghị giải quyết vụ việc theo quy định pháp luật.
Sau khi vụ việc xảy ra, cơ quan CSĐT- Công an huyện T tiến hành khám nghiệm hiện trường, lập biên bản ghi nhận toàn bộ diễn biến vụ việc và thu giữ các mảnh vỡ từ chiếc cốc thủy tinh Nguyễn Văn H sử dụng để ném gây thương tích cho anh Nguyễn Thanh H4.
Tại Kết luận giám định số 29/KLTTCT-PYVP ngày 24/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh V kết luận: “1. Các kết quả chính: Sẹo vết thương phần mềm vùng giữa trán lệch trái kích thước nhỏ xếp: 03%.
- - Sẹo vết thương phần mềm từ cung lông mày trái xuống đầu trong mi trên bên trái kích thước nhỏ xếp: 03%.
- - Sẹo vết thương phần mềm bờ trong dưới mi trái kích thước nhỏ xếp: 03%.
- - Sẹo vết thương phần mềm giữa sống mũi kích thước nhỏ xếp: 03%.
- - Sẹo vết thương phần mềm dưới mi mắt phải kích thước nhỏ xếp: 03%.
- - Sẹo vết thương phần mềm môi trên bên phải kích thước nhỏ xếp 03%.
- - Sẹo vết thương phần mềm giữa môi trên, từ nhân trung xuống niêm mạc kích thước nhỏ kích thước nhỏ xếp: 03%.
- - Vết biến đổi sắc tố da khỏe mép trên bên trái xếp : 0,5%.
- - Gãy răng 1.1 xếp: 02%.
- - Do không có kết quả cận lâm sàng và khám chuyên khoa R - Hàm - Mặt không xác định được chấn động não (khi nào có kết quả giám định bổ sung).
- - Cơ chế hình thành vết thương: các thương tích đã mô tả trên có thể là do vật tày có cạnh sắc gây nên.
- 2. Tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thanh H4 tại thời điểm giám định là 21%”.
Ngày 04/4/2024, Cơ quan CSĐT- Công an huyện T ra quyết định trưng cầu giám định thương tích bổ sung đối với bị hại Nguyễn Thanh H4, tuy nhiên anh H4 đồng ý với Kết luận giám định số 29/KLTTCT-PYVP ngày 24/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh V và từ chối giám định bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Văn H đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Thanh H4 số tiền là 75.000.000đồng. Anh H4 đã nhận bồi thường và không đề nghị thêm, đồng thời đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn H.
Đối với 01 cốc thủy tinh của chị Lê Thị N là chủ quán C Tím do Nguyễn Văn H làm vỡ, chị N không yêu cầu bồi thường gì.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 56/CT-VKSTD ngày 24/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương truy tố Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Cố ý gây thương tích; áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Về vật chứng, đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 hộp giấy niêm phong, bên trong có chứa các mảnh thủy tinh vỡ. Về án phí, đề nghị buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Bị cáo H không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của những người tham gia tố tụng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Do có mâu thuẫn giữa Nguyễn Văn H với anh Nguyễn Thanh H4 về việc anh H4 gửi các video, hình ảnh nhạy cảm cho H dẫn đến việc vợ chồng H cãi nhau nên ngày 27/11/2023, tại quán C thuộc TDP P, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn H đã có hành vi sử dụng cốc thủy tinh, dạng hình trụ, kích thước (10x5)cm, là hung khí nguy hiểm ném vào vùng mặt của anh Nguyễn Thanh H4. Hậu quả: anh H4 bị thương tích với tỉ lệ tổn hại phần trăm sức khỏe ở thời điểm giám định là 21%. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và người làm chứng; phù hợp với kết luận giám định thương tích đối với bị hại và vật chứng vụ án thu giữ được. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận hành vi của Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”; tội danh được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng hung khí nguy.......;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
................................................................................................................................
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.
[3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe người khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Vì vậy, cần cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 và 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của bộ luật hình sự là tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có thân nhân là cụ Nguyễn Văn K là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huy Chương kháng chiến Hạng Nhì, bị cáo được bị hại đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Trong vụ án này, hành vi của bị cáo là bột phát tức thời, hành vi đó xuất phát từ ứng xử không đúng chuẩn mực xã hội của bị hại. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và được bị hại đề nghị với cơ quan tố tụng không khởi tố đối với bị cáo. Do bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhằm tạo cơ hội giúp bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt và sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Đối với chị Vàng Thị B là người gọi điện thoại cho Nguyễn Văn H, nhờ H đến quán cà phê Cầu V Tím với mục đích giúp chị B nói chuyện với H4 để chấm dứt mối quan hệ tình cảm. Giữa chị B và H không bàn bạc, thống nhất ý chí với nhau về việc gây thương tích cho anh H4, cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với chị B là đúng quy định pháp luật.
Đối với Nguyễn Thanh H4 có hành vi gửi hình ảnh, video quan hệ tình dục giữa anh H4 và chị B cho Nguyễn Văn H, mục đích để H cho anh trai H biết thì sẽ không tiếp tục nhắn tin với chị B nữa. Quá trình điều tra xác định, anh H4 chỉ gửi video, hình ảnh nêu trên cho riêng H và không gửi cho bất kỳ ai khác. Mặt khác chị B không có yêu cầu đề nghị gì đối với vụ việc nêu trên. Sau khi nhận được video và hình ảnh đó, H cãi nhau với vợ nên đã đập bỏ điện thoại, Cơ quan điều tra không thu giữ được các video, hình ảnh này. Vì vậy cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét, xử lý.
Đối với anh Bùi Trịnh T là người được H rủ đến quán cà phê Cầu Vồng T1, tuy nhiên T chỉ đi cùng H đến quán, giữa bị cáo H anh T không có sự bàn bạc, thống nhất về việc gây thương tích cho anh H4. Vì vậy, cơ quan điều tra không xem xét xử lý là đúng quy định pháp luật.
Đối với Nguyễn Anh Đ và nam thanh niên đi cùng: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập để làm việc đối với Đ, tuy nhiên Đ không có mặt ở địa phương, vì vậy cũng không xác định được người đi cùng Đ là ai. Tuy nhiên, căn cứ lời khai bị hại và người làm chứng xác định quá trình H gây thương tích cho anh H4 thì Đ và nam thanh niên đi cùng không có hành động xúi giục, kích động hay hỗ trợ để H gây thương tích cho anh H4, vì vậy, cơ quan điều tra không xem xét xử lý là đúng quy định.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 hộp giấy niêm phong, bên trong có chứa các mảnh thủy tinh vỡ cần tịch thu, tiêu hủy.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo H đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Thanh H4 số tiền là 75.000.000đồng. Anh H4 đã nhận bồi thường và không yêu cầu gì thêm nên cần xác nhận bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại.
Đối với 01 cốc thủy tinh của chị Lê Thị N là chủ quán C Tím do Nguyễn Văn H làm vỡ, chị N không yêu cầu bồi thường gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H (tên gọi khác: H1) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 hộp giấy niêm phong, bên trong có chứa các mảnh thủy tinh vỡ.
(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/9/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương)
3. Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự: Xác nhận bị cáo Nguyễn Văn H đã bồi thường xong cho bị hại Nguyễn Thanh H4 số tiền 75.000.000đồng.
4. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Hoàng |
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc về cố ý gây thương tích (criminal case)
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H (Cố ý GTT)
