TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16/8/2024
V/v: Không công nhận là vợ chồng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Huấn
Các hội thẩm nhân dân: Bà Thạch Thị Lan Nhung;
Bà Ngô Thị Luân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thị Thu Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 134/2024/TLST – HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 về việc: “Không công nhận là vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QÐST-DS ngày 30/7/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Hải L, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn D, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn D, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng C.
Địa chỉ: Tòa nhà C - khu B, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T – chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Chánh Khánh Quỳnh L1 – chức vụ: Phó Giám đốc Phòng C huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Theo quyết định ủy quyền số 7300/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019 của Tổng giám đốc Ngân hàng C, quyết định số 111/QĐ-NHCS ngày 09/9/2020 của Giám đốc Phòng C huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(bà L có mặt, ông M vắng mặt không có lý do, bà L1 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Vũ Thị Hải L trình bày: Bà và ông M xây dựng gia đình với nhau vào năm 1994, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi tổ chức đám cưới thì vợ chồng bà sinh sống tại thôn D, xã G, huyện L cho đến nay. Thời gian đầu thì vợ chồng sống rất hòa thuận hạnh phúc, có xảy ra mâu thuẫn nhưng vẫn giải quyết được. Tuy nhiên, từ năm 2023 thì cuộc sống của ông bà không hòa thuận hạnh phúc mà xảy ra nhiều mâu thuẫn bất hòa cãi nhau thường xuyên. Nguyên nhân là do giữa bà và ông M có quá nhiều sự khác biệt, bất đồng về tính cách quan điểm sống. Ông M thường xuyên nhậu nhẹt, say xỉn về nhà chửi bới đánh đập vợ con. Bà đã nhiều lần nói chuyện với ông M để mong ông M sửa chữa hàn gắn tình cảm nhưng ông M không thay đổi. Nay bà xác định không thể tiếp tục chung sống với ông M được nữa. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận bà và ông M là vợ chồng để bà ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà và ông M có 03 người con chung là Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 15/4/1996; Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 16/8/2001 và Nguyễn Quỳnh N1, sinh ngày 27/12/2007. Hiện nay, cháu T1 và cháu N đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường bà không yêu cầu Tòa án giải quyết; còn đối với cháu N1, bà yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của con, con ở với ai thì người đó trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi đủ tuổi trưởng thành, bà không yêu cầu giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà đề nghị để bà và Minh tự thỏa thuận về tài sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Quá trình chung sống bà và ông M có nợ Ngân hàng C, Phòng giao dịch huyện L, tỉnh Lâm Đồng số tiền 20.000.000đ. Bà đề nghị để bà và ông M tự thỏa thuận về việc trả nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn M: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, bị đơn ông Nguyễn Văn M vắng mặt không có lý do và cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà L.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng C - Phòng giao dịch ngân hàng C huyện L, tỉnh Lâm Đồng do bà Chánh Khánh Quỳnh L1 đại diện theo ủy quyền trình bày: Căn cứ vào hồ sơ vay vốn số 1044104160 ngày 11/4/2021 của gia đình bà Vũ Thị Hải L và ông Nguyễn Văn M, địa chỉ tại thôn D, xã G, Huyện L, có vay Ngân hàng Chính sách Xã hội theo chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, số tiền vay 20.000.000đ, ngày vay là 11/4/2021, hạn trả cuối cùng là 11/4/2026.
Tổng số nợ vay gốc và lãi tiền vay tính đến ngày 11/7/2024 là 20.000.000đ. Trong đó: Tiền nợ gốc: 20.000.000đ; tiền nợ lãi: 0đ; tổng cộng: 20.000.000đ.
Về tài sản đảm bảo tiền vay: Cho vay tín chấp, không phải thế chấp tài sản theo quy định của Chính Phủ (Cho vay ủy thác thông qua Hội phụ nữ xã G - huyện L);
Căn cứ tình hình thực tế của gia đình bà Vũ Thị Hải L và ông Nguyễn Văn M, hiện đang giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà. Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện C kính đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà giải quyết về số nợ mà gia đình bà Vũ Thị Hải L và ông Nguyễn Văn M vay của NHCSXH huyện L trong vụ án xin ly hôn này, buộc gia đình bà Vũ Thị Hải L và ông Nguyễn Văn M cùng có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ số nợ gốc và lãi phát sinh cho NHCSXH huyện L.
Vụ án đã được Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không được do vắng mặt bị đơn.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của bà L, không công nhận bà L và ông M là vợ chồng.
Về con chung: Đối với con là Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 15/4/1996; Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 16/8/2001 hiện nay đều đã trưởng thành và phát triển bình thường, bà L không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra để xem xét; đối với con chung Nguyễn Quỳnh N1, sinh ngày 27/12/2007 có nguyện vọng muốn ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn nên đề nghị giao cho chung là Nguyễn Quỳnh N1 cho bà L có trách nhiệm trược tiếp nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con; về cấp dưỡng nuôi con bà L không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét.
Về tài sản chung: Bà L đề nghị để bà và Minh tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để xem xét.
Về nợ chung: Buộc bà L và ông M phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C - Phòng giao dịch ngân hàng Chính sách xã hội huyện C số tiền 20.000.000 đồng.
Về án phí: Buộc bà L phải chịu án phí về việc yêu cầu giải quyết không công nhận là vợ chồng theo quy định của pháp luật. Bà L và ông M phải chịu án phí trên số tiền phải trả nợ cho Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tại phiên toà bị đơn ông Nguyễn Văn M đã được Tòa án triệp tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng C - Phòng giao dịch ngân hàng C huyện L, tỉnh Lâm Đồng do bà Chánh Khánh Quỳnh L1 đại diện theo ủy quyền có đơn xin giải quyết vắng mặt. Do đó căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vắng mặt ông M, bà L1 theo thủ tục chung là phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông M xây dựng gia đình với nhau vào năm 1994, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Sau khi tổ chức đám cưới thì vợ chồng bà sinh sống tại thôn D, xã G, huyện L cho đến nay. Thời gian đầu thì vợ chồng ông bà sống rất hòa thuận hạnh phúc, có xảy ra mâu thuẫn nhưng vẫn giải quyết được. Tuy nhiên, từ năm 2023 thì cuộc sống của ông bà không hòa thuận hạnh phúc mà xảy ra nhiều mâu thuẫn. Do phát sinh mâu thuẫn không thể cải thiện được nên bà L yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận bà và ông M là vợ chồng. Còn ông M quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông M nhưng ông M đều vắng mặt và và cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà L. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã xác minh về việc đăng ký kết hôn của bà L và ông M tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện L thì được cung cấp thông tin: Qua kiểm tra sổ hộ tịch kết hôn lưu giữ tại Ủy ban nhân dân xã G từ năm 1994 cho đến nay thì ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1970 và bà Vũ Thị Hải L, sinh năm 1976 cùng cư trú tại thôn D, xã G, huyện L không có tên trong sổ hộ tịch kết hôn, cũng không kê khai đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã G.
Xét thấy, quá trình chung sống giữa bà L và ông M xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau dẫn đến thường xuyên cãi nhau. Tòa án cũng đã tiến hành xác minh thì được biết ông M thường xuyên nhậu nhẹt, say xỉn về nhà có lời nói và cư xử thiếu tế nhĩ với vợ con và còn nhiều lần ông M đánh đập bà L. Quá trình xảy ra mâu thuẫn thì gia đình cũng đã nhiều lần động viên phân tích, hòa giải nhưng ông M không thay đổi mà làm làm cho cuộc sống chung ngày càng căng thẳng ngột ngạt hơn. Nay bà L xác định mâu thuẫn đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà không còn tình cảm với ông M nên bà yều cầu Tòa án giải quyết không công nhận bà và ông M là vợ chồng để bà ổn định cuộc sống là có cơ sở để chấp nhận. Do quan hệ hôn nhân của bà L và ông M được xác lập sau ngày 03/01/1987 nhưng không có đăng ký kết hôn nên cần căn cứ khoản 1 Điều 14, Khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận bà Vũ Thị Hải L và ông Nguyễn Văn M là vợ chồng là phù hợp.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống giữa bà L và ông M có 03 con chung là Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 15/4/1996; Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 16/8/2001 và Nguyễn Quỳnh N1, sinh ngày 27/12/2007. Hiện nay, cháu T1 và cháu N đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra xet xét; còn đối với cháu Nguyễn Quỳnh N1, bà L yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của con, con ở với ai thì người đó trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi đủ tuổi trưởng thành, bà không yêu cầu giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu Nguyễn Quỳnh N1 hiện nay đã trên 7 tuổi có nguyện vọng muốn được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Do đó, cần giao cháu Nguyễn Quỳnh N1 cho bà L có trách nhiệm trược tiếp nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con; về cấp dưỡng nuôi con bà L không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét
[4] Về tài sản chung: Bà Lý nghị để bà và Minh tự thỏa thuận về tài sản với ông M không yêu cầu Tòa án giải nên không đặt ra để xem xét.
[5] Về nợ chung: Bà L xác định giữa bà và ông M có nợ Ngân hàng C, Phòng giao dịch huyện L, tỉnh Lâm Đồng số tiền 20.000.000đ. Bà đề nghị để bà và ông M tự thỏa thuận về việc trả nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn Ngân hàng C, Phòng giao dịch huyện L, tỉnh Lâm Đồng xác định tính đến ngày 11/7/2024 thì ông
M, bà L còn nợ Ngân hàng 20.000.000đ. Trong đó: Tiền nợ gốc: 20.000.000đ; tiền nợ lãi: 0đ. Khi Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa bà L và ông M thì đề nghị Tòa án buộc gia đình bà Vũ Thị Hải L và ông Nguyễn Văn M cùng có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ số nợ gốc và lãi phát sinh cho NHCSXH huyện L. Xét thấy, tại hồ sơ vay vốn Ngân hàng ông M đã ủy quyền cho bà L để vay vốn Ngân hàng với mực đích vay vốn khoan giếng và làm nhà vệ sinh phục vụ cho cuộc sống gia đình. Nay Ngân hàng yêu cầu ông M, bà L cùng có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ số nợ gốc và lãi phát sinh cho NHCSXH huyện L là có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà Vũ Thị Hải L tự nguyện nhận chịu nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng mà không yêu cầu ông M cùng phải có nghĩa vụ trả nợ. Xét thấy đây là sự tự nguyện của bà L và phù hợp với quy định của pháp luật, đồng thời, số nợ không lớn. Do đó cần buộc bà L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số nợ gốc là 20.000.000đ và lãi phát sinh cho đến khi trả xong nợ cho Ngân hàng là phù hợp.
[6]. Về án phí: Buộc bà Vũ Thị Hải L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đối với yêu cầu giải quyết không công nhận là vợ chồng. Bà Vũ Thị Hải L phải chịu 1.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả nợ cho Ngân hàng (20.000.000đ x 5%).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 16, khoản 2 Điều 53; Điều 54; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 60; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Tuyên bố không công nhận bà Vũ Thị Hải L và ông Nguyễn Văn M là vợ chồng.
- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Quỳnh N1, sinh ngày 27/12/2007 cho bà Vũ Thị Hải L có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con; ông Nguyễn Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về nợ chung: Buộc bà Vũ Thị Hải L phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C, Phòng giao dịch huyện L, tỉnh Lâm Đồng số tiền nợ gốc là 20.000.000đ và lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
- Về án phí: Buộc bà Vũ Thị Hải L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án
phí mà bà Nguyễn Thị Hải L2 đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004646 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Buộc bà Vũ Thị Hải L phải chịu 1.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả nợ cho Ngân hàng C, Phòng giao dịch huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sở thẩm (16/8/2024) nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo; riêng bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Huấn |
7
Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa |
Bùi Duy Hiếu - Pang Ting Suyl | Trần Minh Huấn |
Bản án số 59/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về không công nhận là vợ chồng
- Số bản án: 59/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận là vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý - Minh = KHông CNVC
