|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST Ngày 10 – 5 – 2024 V/v “Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Hoàng Tiến
- Ông Huỳnh Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 243/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 54/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết H, sinh năm 1992 – có mặt
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1960 – vắng mặt
- Cùng nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 14/3/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 10/5/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết H trình bày:
- Về hôn nhân: Chị H và anh T cưới nhau vào năm 1980, hôn nhân do mai mối, chị H và anh T tự nguyện hôn nhân với nhau và không có đăng ký kết hôn. Thời gian vợ chồng sống chung hạnh phúc khoảng 32 năm thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng và ly thân từ tháng 3 năm 2013 cho đến nay.
Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng: Chị H trình bày do anh chị thường xuyên bất đồng ý kiến, quan điểm sống khác nhau, anh T thường xuyên nhậu nhẹt không quan tâm, chăm sóc chị H và con chung. Chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên H yêu cầu ly hôn với anh T.
- Về con chung: Chị H và anh T có ba người con chung tên là Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1981, Nguyễn Thị N, sinh năm 1985 và Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1987, hiện nay đã trưởng thành, không bị nhược điểm về thể chất tinh thần.
- Về tài sản chung: Ngày 03/4/2024 chị H có đơn yêu cầu rút đơn yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung của vợ chồng với anh T.
- Về nghĩa vụ chung về tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Các tài liệu, chứng cứ của vụ án: Đã được Tòa án công khai tại Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào ngày 10/4/2024.
- Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh:
- + Về hôn nhân: Chị H và anh T cưới nhau vào năm 1980 và không có đăng ký kết hôn. Tuy nhiên quan hệ vợ chồng giữa chị H với anh T được xác lập trước ngày 03/01/1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.
- + Về con chung: Căn cứ vào Giấy khai sinh được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long cấp thì Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1981, Nguyễn Thị N, sinh năm 1985 và Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1987 là con chung của chị H và anh T.
- Các tình tiết, sự kiện mà các bên đương sự thống nhất, không thống nhất:
Do bị đơn là anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ hai lần thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh T vẫn vắng mặt không vì lý do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên không xác định được sự thống nhất, không thống nhất của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ và ý kiến trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện của chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình.
[2]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật tại phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa, nhưng anh T vắng mặt không vì lý do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T1 theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của chị H với anh T. Hội đồng xét xử, xét thấy nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H với anh T là do anh chị bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, anh T không quan tâm chăm sóc chị H và con chung; từ khi ly thân cho đến nay anh T, chị H không có quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và không tự đoàn tụ được với nhau; xét thấy, hôn nhân giữa chị H với anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 2, Điều 19, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H; cho chị H được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Hiện nay đã trưởng thành và phát triển bình thường nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Ngày 03/4/2024 chị H có đơn yêu cầu rút đơn yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung của vợ chồng. Hội đồng xét xử, xét thấy việc rút yêu cầu khởi kiện của chị H là tự nguyện nên được chấp nhận và đình chỉ đối với yêu cầu này của chị H.
- Về nghĩa vụ chung về tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Tuyết H không phải chịu tiền án phí trong vụ án ly hôn, do chị Nguyễn Thị Tuyết H là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn tiền tạm ứng án phí và án phí nên được miễn nộp tiền án dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217 và khoản 1, 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 2, Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm đ Điều 12, Điều 14, Điều 15 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết H.
- 1.1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Tuyết H với anh Nguyễn Văn T.
- 1.2. Về con chung: Hiện nay cháu Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1981, cháu Nguyễn Thị N, sinh năm 1985 và cháu Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1987 đã trưởng thành và phát triển bình thường nên chị Nguyễn Thị Tuyết H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- 1.4. Về tài sản chung: Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết H về vệc yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng với anh Nguyễn Văn T.
- 1.4. Về nghĩa vụ chung về tài sản: Nguyễn Thị Tuyết H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Tuyết H không phải chịu tiền án phí trong vụ án ly hôn, do chị Nguyễn Thị Tuyết H là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn tiền tạm ứng án phí và án phí nên được miễn nộp tiền án dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo:
- Chị Nguyễn Thị Tuyết H có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Văn Cảnh |
Bản án số 59/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 59/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Tuyết Hoa - Nguyễn Văn Tươi
