Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10-5-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nhường.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Công Mừng.
  2. Ông Vương Tiến Chuẩn.

Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 126/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Lê Hương G, sinh năm 1994.
  • Địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  • - Bị đơn: Anh Hoong Minh T, sinh năm 1987.
  • Địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

(Chị G và anh T đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/02/2024 và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Lê Hương G, bản tự khai của bị đơn anh Hoong Minh T nội dung vụ án như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Hương G và anh Hoong Minh T kết hôn với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trước khi cưới hai bên có được tự do tìm hiểu và được hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau khi cưới chị G về làm dâu tại gia đình nhà anh T ngay. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc, nhưng khi chung sống được với nhau một thời gian thì hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau làm cho cuộc sống không có hạnh phúc, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Chị G anh T ly thân với nhau từ đầu năm 2022 cho đến nay. Hai bên gia đình cũng hòa giải cho anh chị nhưng không được. Nay chị G xác định không còn tình cảm với anh Hoong Minh T nên đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Hoong Minh T. Anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, chị G yêu cầu giải quyết ly hôn với anh, anh T nhất trí ly hôn với chị G.

- Về con chung: Anh T chị G có 02 con chung là Hoong Tuấn N, sinh ngày 17/4/2014 và Hoong Bảo K, sinh ngày 18/3/2016. Sau khi ly hôn chị G và anh T cùng đề nghị để anh Hoong Minh T chăm sóc và nuôi dưỡng cả hai con chung. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị Lê Hương G và anh Hoong Minh T tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị Lê Hương G và anh Hoong Minh T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện của chị G, lời trình bày của anh T và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Hương G, cho chị Lê Hương G được ly hôn với anh Hoong Minh T.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Hoong Tuấn N, sinh ngày 17/4/2014 và Hoong Bảo K, sinh ngày 18/3/2016 cho anh H Minh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc chị Lê Hương G phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lê Hương G có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, con chung với anh Hoong Minh T. Bị đơn anh Hoong Minh T hiện đang cư trú tại thôn Đ, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Hương G và anh Hoong Minh T vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt chị Lê Hương G và anh Hoong Minh T.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Lê Hương G và anh Hoong Minh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 16 tháng 10 năm 2013. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Như vậy xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Trong quá trình chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẫn, chị G cho rằng nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau làm cho cuộc sống không có hạnh phúc. Chị G anh T đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay không còn ai quan tâm tới ai. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị G anh T là có thật. Sau khi thụ lý vụ án chị G anh T đều cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau nữa. Quá trình giải quyết chị G vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Bị đơn anh Hoong Minh T cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, chị G yêu cầu giải quyết ly hôn với anh T, anh T nhất trí ly hôn với chị G

[5] Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng cả chị Lê Hương G và anh Hoong Minh T đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Lê Hương G và anh Hoong Minh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Lê Hương G được ly hôn anh Hoong Minh T. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc cho chị Lê Hương G được ly hôn với anh Hoong Minh T phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[6] Về con chung: Chị Lê Hương G và anh Hoong Minh T có hai con chung là cháu Hoong Tuấn N, sinh ngày 17/4/2014 và Hoong Bảo K, sinh ngày 18/3/2016. Trường hợp vợ chồng ly hôn chị G đề nghị để các con chung cho anh T nuôi dưỡng, anh T nhất trí nhận chăm sóc nuôi dưỡng các con chung của vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay thì con chung ở cùng anh T và do anh T nuôi dưỡng phát triển ổn định. Do vậy, để đảm bảo sự phát triển ổn định của con chung cần giao các con chung cho anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, phù hợp nguyện vọng của các đương sự và của các con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải quyết vì các đương sự không yêu cầu.

[7] Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[8] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Lê Hương G phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Hương G được ly hôn với anh Hoong Minh T.
  2. Về con chung: Giao các con chung là cháu Hoong Tuấn N, sinh ngày 17/4/2014 và cháu Hoong Bảo K, sinh ngày 18/3/2016 cho anh H Minh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn chị Lê Hương G được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở chị Lê Hương G thực hiện quyền này.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  1. Về án phí: Chị Lê Hương G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006050 ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Lê Hương G đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn.
  • - UBND xã Quý Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang (số 161/2013);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Nguyễn Đức Nhường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 59/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: b
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger