Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIẾN THỤY

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày 09-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phan Thị Minh Phương

Bà Đặng Thị Đôi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Dương Thị H, sinh ngày 06/7/1992 tại Quảng Ninh; nơi đăng ký HKTT: Tổ B, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi sinh sống: Tổ B, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn C và bà Mai Thị G; có chồng là Phạm Minh D (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 22/5/2024 đến ngày 31/5/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

- Bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn C, xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  2. Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1953; nơi cư trú: Thôn D, xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1959; nơi cư trú: Thôn E, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  4. Bà Đào Thị T1, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn A, xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  5. Bà Cao Thị H1, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn C, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1969; nơi cư trú: Tổ A, phường H, Quận D, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có ý định chiếm đoạt tiền của những người phụ nữ nhiều tuổi bán hàng ở gần chợ nhỏ, lẻ, khoảng 07 giờ ngày 21/5/2024 Dương Thị H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đen, loại SH không gắn biển kiểm soát đến quán bán hoa quả của bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1959, ở thôn E, xã D, huyện K giả vờ mua hoa quả. Khi chọn hoa quả, H giả vờ lấy điện thoại di động ra nghe, cố ý nói to để bà P nghe thấy với nội dung mẹ gọi điện bảo mua sữa tiểu đường nhưng H không mang đủ tiền và hỏi vay bà P 900.000 đồng. Bà P tưởng thật đưa H 900.000 đồng, H cầm tiền cất vào túi áo chống nắng, rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi, chiếm đoạt tiền của bà P. Do không biết đường, H điều khiển xe mô tô quay vòng về gần ngã tư quán bà P, thì bị quần chúng nhân dân phát hiện, giữ lại, bàn giao cho Công an xã D, huyện K.

Tại Cơ quan điều tra, Dương Thị H khai nhận ngoài lần phạm tội bị bắt giữ, từ ngày 18/5/2024 đến ngày 21/5/2024, H còn 04 lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn huyện K, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 18/5/2024, Dương Thị H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH màu đen, biển kiểm soát 15L1-110.55 của bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1969 đến huyện K để lừa đảo chiếm đoạt tiền của người bán hàng ở gần chợ. Trên đường đi H va chạm với xe mô tô khác làm biển kiểm soát 15L1-110.55 rơi ra. H cất biển kiểm soát xe mô tô vào cốp xe rồi điều khiển xe đến quán của bà Đào Thị T1 đang bán hoa quả ở rìa đường thuộc thôn T, xã T, huyện K giả vờ mua dưa. Khi chọn dưa, H lấy điện thoại giả vờ nói chuyện, bảo quên tiền, rồi hỏi vay bà T1 1.000.000 đồng để mua sữa tiểu đường cho mẹ đẻ. Bà T1 tưởng thật đưa H 1.000.000 đồng. H cầm tiền cất vào túi áo khoác chống nắng, rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi, chiếm đoạt tiền của bà T1.

Lần thứ hai: Sau khi lừa được tiền của bà T1, bị cáo tiếp tục điều khiển xe mô tô đến quán bán cáy ở chợ thuộc thôn E, xã D, huyện K của bà Cao Thị H1 giả vờ mua cáy. H tiếp tục dùng thủ đoạn như trên hỏi vay bà Cao Thị H1 1.500.000 đồng để mua sữa tiểu đường cho mẹ đẻ. Bà H1 tưởng thật đưa H 1.500.000 đồng. H cầm tiền cất vào túi áo chống nắng rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi, chiếm đoạt tiền của bà H1.

Lần thứ ba: Khoảng 06 giờ 40 phút ngày 21/5/2024, H điều khiển xe mô tô trên đến quán của bà Nguyễn Thị S đang bán cháo ở chợ xã K, huyện K giả vờ mua cháo. H tiếp tục dùng thủ đoạn như các lần trên hỏi vay bà S 400.000 đồng để mua sữa tiểu đường cho mẹ đẻ. Bà S tưởng thật đưa H 400.000 đồng. H cầm tiền cất vào túi áo chống nắng, rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi, chiếm đoạt tiền của bà S.

Lần thứ tư: Sau khi chiếm đoạt tiền của bà S, bị cáo tiếp tục điều khiển xe mô tô đến quán của bà Đỗ Thị Tthôn D, xã K, huyện K, giả vờ mua chè. Sau đó, H tiếp tục dùng thủ đoạn gian dối vay bà T 2.000.000 đồng, giả vờ mua sữa cho mẹ đẻ. Bà T tưởng thật đưa H 2.000.000 đồng. H cầm tiền cất vào túi áo chống nắng, rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi, chiếm đoạt tiền của bà T.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH, không gắn biển kiểm soát, màu đen; 01 biển kiểm soát 15L1-110.55; 01 hộp kính màu đen; 01 kính mắt; các mảnh vỡ của vật hình con lợn màu đỏ bằng sứ; 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô mang tên Nguyễn Thị P (bản sao y công chứng); 01 ví màu đen; 01 thẻ ATM, 01 thẻ bảo hiểm y tế, 01 căn cước công dân (đều mang tên Dương Thị H); 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Phạm Hải Y; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm mô tô; 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO màu xanh; 01 áo chống nắng; 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai màu đen; 01 chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Honda và 6.585.000 đồng (trong đó 1.700.000 đồng thu trong con lợn màu đỏ bằng sứ, 3.800.000 đồng thu trong túi quần H, 1.085.000 đồng thu trong ví màu đen), chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy để xử lý theo vụ án.

Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ cho các bị hại. Các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKSKT ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy đã truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lý do bị cáo chọn tiếp cận người già để lừa đảo chiếm đoạt tài sản vì những đối tượng này thường cả tin, dễ lừa hơn người trẻ. Sau khi bị bắt giữ H rất ăn năn hối cải và đã tác động gia đình để bồi thường thiệt hại đầy đủ cho những người bị hại.

Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt: Dương Thị H mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ từ ngày 22/5/2024.
  • - Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự: Phạt tiền bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
  • - Về xử lý vật chứng:
  • Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO màu xanh của bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước.
  • Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • + Trả lại cho bị cáo: 01 hộp kính màu đen; 01 chiếc kính mắt; các mảnh vỡ của vật hình con lợn màu đỏ bằng sứ; 01 ví màu đen; 01 thẻ ATM, 01 thẻ bảo hiểm y tế, 01 căn cước công dân (đều mang tên Dương Thị H); 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Phạm Hải Y; 01 áo chống nắng; 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai màu đen.
  • + Trả lại cho bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1969: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH màu đen, không gắn biển kiểm soát; 01 biển kiểm soát 15L1-110.55; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thị P (bản sao y công chứng); 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô; 01 chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Honda.
  • - Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Nay các bị hại đều không có yêu cầu đề nghị gì đối với bị cáo, nên không xem xét giải quyết.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều đồng ý và không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng tỏ ra ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Sáng ngày 18/5/2024 và 21/5/2024 tại các xã K, D, T, huyện K, Dương Thị H đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tiền của bà Đào Thị T1 là 1.000.000 đồng, bà Cao Thị H1 là 1.500.000 đồng, bà Nguyễn Thị S là 400.000 đồng, bà Đỗ Thị T là 2.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị P là 900.000 đồng. Tổng số tiền Dương Thị H chiếm đoạt là 5.800.000 đồng. Như vậy, hành vi của Dương Thị H đã thỏa mãn cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo chọn đối tượng tiếp cận để lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người già nhiều tuổi, trong các bị hại có bà Đỗ Thị T, sinh năm 1953, là người trên 70 tuổi. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội đối với người 70 tuổi trở lên, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo; đồng thời để phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

[6] Về hình phạt bổ sung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy đề nghị căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự để phạt tiền bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét đến tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; đối với 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO màu xanh của bị cáo dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước. Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Số tiền 6.585.000 đồng cần trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Đối với 01 hộp kính màu đen; 01 chiếc kính mắt; các mảnh vỡ của vật hình con lợn màu đỏ bằng sứ; 01 ví màu đen; 01 thẻ ATM, 01 thẻ bảo hiểm y tế, 01 căn cước công dân (đều mang tên Dương Thị H); 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Phạm Hải Y; 01 áo chống nắng; 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai màu đen; đều không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH màu đen, không gắn biển kiểm soát; 01 biển kiểm soát 15L1-110.55; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thị P (bản sao y công chứng); 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô; 01 chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Honda; là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1969; do vậy cần trả lại bà P.

[8] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bị hại không có yêu cầu đề nghị gì thêm. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Trong vụ án này, bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1969 cho Dương Thị H mượn xe mô tô, nhưng không biết H sử dụng xe đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên không bị xử lý là đúng pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
  • Tuyên bố bị cáo Dương Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Xử phạt bị cáo Dương Thị H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22/5/2024
  • - Về xử lý vật chứng:
  • Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO màu xanh của bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy).
  • Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • + Trả lại bị cáo số tiền 6.585.000đ (Sáu triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn đồng); nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (Theo ủy nhiệm chi tại kho bạc nhà nước huyện K ngày 13/8/2024).
  • + Trả lại bị cáo: 01 hộp kính màu đen; 01 chiếc kính mắt; các mảnh vỡ của vật hình con lợn màu đỏ bằng sứ; 01 ví màu đen; 01 thẻ ATM, 01 thẻ bảo hiểm y tế, 01 căn cước công dân (đều mang tên Dương Thị H); 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Phạm Hải Y; 01 áo chống nắng; 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai màu đen.
  • + Trả lại bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1969: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH màu đen, không gắn biển kiểm soát; 01 biển kiểm soát 15L1-110.55; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thị P (bản sao y công chứng); 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô; 01 chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Honda.
  • (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy).
  • - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Các bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Kiến Thụy;
  • - Công an huyện Kiến Thụy;
  • - Trại tạm giam Hải Phòng;
  • - Phòng PV06 + PC10 Công an Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS huyện Kiến Thụy;
  • - Sở tư pháp;
  • - Ủy ban nhân dân phường Hà Khẩu, phường Hải Thành;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Người có QL, NV liên quan;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngà

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Phan Thị Minh Phương

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Đặng Thị Đôi

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Thị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger