Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số án: 59/2024/HS-ST

Ngày 09/5/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Tiến và Bà Vũ Thị Thúy.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Thúy - Thư ký Toà án ND huyện Thái Thụy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa:

Ông Đoàn Việt Thiện - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm lý số 32/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QĐ – HPT ngày 26 tháng 4 năm 2024, đối với:

Phạm Văn T, sinh ngày 04/7/1996, trú tại thôn V, thành phố Hải Phòng. Nơi cư trú khu dân cư L, thị trấn V, huyện V, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn M, sinh năm 1975 và bà Vũ Thị L, sinh năm 1974. Bị cáo đã ly hôn vợ và có 01 con sinh năm 2018 hiện đang ở cùng mẹ bị cáo. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2023; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

Được dẫn giải có mặt.

2.2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Lê Thái A, sinh năm 1971, trú tại số nhà B, tổ dân phố số B, thị trấn D, huyện T; chị Lê Thị C, sinh năm 1983, trú tại số nhà F, tổ dân phố số C, thị trấn D, huyện T; anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 2000, trú tại thôn B, xã T, huyện T; anh Nịnh Văn L1, sinh năm 1980, trú tại thôn Đ, xã T, huyện T; anh Giang Công B, sinh năm 1980, trú tại thôn L, xã T, huyện T; chị Đào Thị D, sinh năm 1984; trú tại thôn L, xã T, huyện T; anh Trần Văn T2, sinh năm 1974, trú tại tổ dân phố M, thị trấn D, huyện T; chị Tô Thị T3, sinh năm 1981, trú tại tổ dân phố số F, thị trấn D, huyện T; bà Bùi Thị A1, sinh năm 1965, trú tại tổ dân phố số E thị trấn D, huyện T; ông Phạm Ngọc L2, sinh năm 1963, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; anh Tăng Văn P, sinh năm 1990, trú tại thôn Đ, xã D, huyện T; chị Nguyễn Thị Huyền T4, sinh năm 1988, trú tại thôn V, xã D, huyện T; chị Bùi Thị H, sinh năm 1994, trú tại thôn L, xã D, huyện T; chị Vũ Thị H1, sinh năm 1972, trú tại thôn K, xã S, huyện H; anh Đinh Ngọc D1, sinh năm 1968, trú tại thôn K, xã T, huyện T; chị Trần Thị L3, sinh năm 1980, trú tại thôn P, xã T, huyện T; chị Đào Thị L4, sinh năm 1988, trú tại thôn Đ, xã T, huyện T; anh Bùi Hữu D2, sinh năm 1992, trú tại thôn Đ, xã H, huyện T. (Đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn T không có giấy phép trong lĩnh vực kinh doanh cho vay, tín dụng. Từ tháng 8/2023, T nảy sinh ý định cho vay tiền với lãi suất cao. Tuyền vào mạng xã hội tìm mua tài khoản Ngân hàng Thương mại Cổ phần K (T6) số 19038851959015 mang tên Trương Hoàng G với giá 2.000.000 đồng và đặt in 70 card (tờ rơi), kích thước (8 x 5)cm, in nội dung có dòng chữ “cho vay tiêu dùng, không thế chấp, thủ tục đơn giản, giải ngân trong ngày, trả góp theo ngày” kèm theo số điện thoại liên hệ “0867.515.xxx”. Sau đó T đi đến khu vực chợ D3, chợ L5 thuộc huyện T, tỉnh Thái Bình để rải tờ rơi hoặc cài vào một số nhà dân hai bên đường đi, để quảng cáo.

Sau khi rải tờ rơi có nhiều người gọi đến số điện thoại 0867.515.xxx của T để hỏi vay tiền. Tuyền xưng tên là “H2 ở thị trấn D” nhằm che giấu tên, địa chỉ thật của mình, yêu cầu người vay gửi địa chỉ chỗ ở để T đến gặp kiểm tra, thống nhất số tiền vay, giữ giấy tờ cá nhân (căn cước công dân hoặc chứng minh thư nhân dân hoặc bằng lái xe hoặc giấy khai sinh, sau đó T đã trả lại cho người vay) hoặc người vay đọc số tiền vay, T dùng điện thoại di động quay video lưu lại để làm tin. Tuyền cho vay tiền dưới hình thức đóng bát họ (trả góp theo ngày), thời hạn 50 ngày, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương với mức lãi suất 146%/năm, gấp 7,3 lần so với mức lãi suất cao nhất trong giao dịch dân sự quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự); tiền lãi thu 01 lần, trừ vào số tiền vay ban đầu; hằng ngày, người vay phải trả góp tiền nợ gốc vào tài khoản Ngân hàng T6 số 19038851959015 hoặc nộp tiền mặt trực tiếp cho T. Nếu người vay chậm trả tiền nợ gốc thì T đến nhà hoặc gọi điện thoại để nhắc, đôn đốc người vay trả tiền. Từ tháng 8/2023 đến tháng 12/2023, T đã cho 18 người vay tổng số tiền 627.500.000 đồng, tổng số tiền lãi đã thu là 125.500.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 17.191.788 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 108.308.212 đồng. Cụ thể như sau:

1. Tuyền cho chị Lê Thái A, sinh năm 1971, trú tại tổ dân phố số B, thị trấn D, huyện T vay 4 lần:

Ngày 14/8/2023, T cho chị A vay 22.500.000 đồng. Tuyền thu luôn số tiền lãi là 4.500.000 đồng nên chị A chỉ được nhận số tiền là 18.000.000 đồng.

Ngày 04/9/2023, T cho chị A vay 2.500.000 đồng. Tuyền thu luôn số tiền lãi là 500.000 đồng nên chị A chỉ được nhận số tiền là 2.000.000 đồng.

Ngày 03/10/2023, T cho chị A vay 22.500.000 đồng. Tuyền thu luôn số tiền lãi là 4.500.000 đồng nên chị A chỉ được nhận số tiền là 18.000.000 đồng.

Ngày 20/11/2023, T cho chị A vay 20.000.000 đồng. Tuyền thu luôn số tiền lãi là 4.000.000 đồng nên chị A chỉ được nhận số tiền là 16.000.000 đồng.

Tổng số tiền T cho chị A vay là 67.500.000 đồng, thu lãi 13.500.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 1.849.314 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 11.650.686 đồng. Đối với các khoản vay trên, sau đó chị A đều trả góp tiền nợ gốc theo ngày và đã trả đủ tiền nợ gốc cho T là 67.500.000 đồng.

2. Tuyền cho chị Lê Thị C, sinh năm 1983, trú tại số nhà F, tổ dân phố số C, thị trấn D, huyện T vay 3 lần:

Ngày 14/8/2023, T cho chị C vay 22.500.000 đồng. Tuyền thu luôn số tiền lãi là 4.500.000 đồng nên chị C chỉ được nhận số tiền là 18.000.000 đồng.

Ngày 04/10/2023, T cho chị C vay 25.000.000 đồng. Tuyền thu luôn số tiền lãi là 5.000.000 đồng nên chị C chỉ được nhận số tiền là 20.000.000 đồng.

Ngày 27/11/2023, T cho chị C vay 12.500.000 đồng. Tuyền thu luôn số tiền lãi là 2.500.000 đồng nên chị C chỉ được nhận số tiền là 10.000.000 đồng.

Tổng số tiền T cho chị C vay là 60.000.000 đồng, thu lãi 12.000.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 1.643.836 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 10.356.164 đồng. Đối với các khoản vay trên, sau đó chị C trả góp tiền nợ gốc theo ngày, đến nay chị C mới trả góp tiền nợ gốc cho T được 48.750.000 đồng, còn nợ 11.250.000 đồng.

3. Tuyền cho anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 2000, trú tại thôn B, xã T, huyện T vay 3 lần vào các ngày 21/8/2023, ngày 09/10/2023 và ngày 27/11/2023; mỗi lần 12.500.000 đồng. Cả 3 lần cho vay, T đều thu luôn số tiền lãi là 2.500.000 đồng/lần.

Tổng số tiền T cho anh T1 vay là 37.500.000 đồng, thu lãi 7.500.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 1.027.398 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 6.472.602 đồng. Đối với các khoản vay trên, sau đó anh T1 trả góp tiền nợ gốc theo ngày, đến nay anh T1 mới trả góp tiền nợ gốc cho T được 27.000.000 đồng, còn nợ 10.500.000 đồng.

4. Tuyền cho chị Đào Thị L4, sinh năm 1988, trú tại thôn Đ, xã T, huyện T vay 2 lần: ngày 30/8/2023, T cho chị L4 vay 10.000.000 đồng, thu 2.100.000 đồng (gồm 2.000.000 đồng tiền lãi và 100.000 đồng phí làm hồ sơ); ngày 22/9/2023, T cho chị L4 vay 15.000.000 đồng, thu 3.100.000 đồng (gồm 3.000.000 đồng tiền lãi và 100.000 đồng phí làm hồ sơ).

Tổng số tiền T cho chị L4 vay là 25.000.000 đồng, thu lãi 5.000.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 684.932 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 4.315.068 đồng. Đối với các khoản vay trên, sau đó chị L4 trả góp tiền nợ gốc theo ngày, đến nay chị L4 mới trả góp tiền nợ gốc cho T được 13.300.000 đồng, còn nợ 11.700.000 đồng.

5. Tuyền cho anh Bùi Hữu D2, sinh năm 1992, trú tại thôn Đ, xã H, huyện T vay 3 lần vào các ngày 08/9/2023, 06/10/2023 và 09/11/2023; mỗi lần 12.500.000 đồng. Cả 3 lần cho vay, T đều thu luôn số tiền lãi là 2.500.000 đồng/lần.

Tổng số tiền T cho anh D2 vay là 37.500.000 đồng, thu lãi 7.500.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 1.027.398 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 6.472.602 đồng. Đối với các khoản vay trên, sau đó anh D2 trả góp tiền nợ gốc theo ngày, đến nay anh D2 mới trả góp tiền nợ gốc cho T được 30.000.000 đồng, còn nợ 7.500.000 đồng.

6. Ngày 16/9/2023, T cho anh Nịnh Văn L1, sinh năm 1980, trú tại thôn Đ, xã T, huyện T vay 12.500.000 đồng; thu lãi 2.500.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 342.466 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 2.157.534 đồng. Hằng ngày anh L1 phải trả góp tiền nợ gốc là 250.000 đồng vào tài khoản của T. Đến nay anh L1 mới trả góp tiền nợ gốc là 2.800.000 đồng, còn nợ 9.200.000 đồng.

7. Tuyền cho anh Giang Công B, sinh năm 1980, trú tại thôn L, xã T, huyện T vay 2 lần: ngày 25/9/2023, T cho anh B vay 17.500.000 đồng, thu lãi 3.500.000 đồng; ngày 27/9/2023, T cho anh B vay 10.000.000 đồng, thu lãi 2.000.000 đồng.

Tổng số tiền T cho anh B vay là 27.500.000 đồng, thu lãi 5.500.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 753.425 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 4.746.575 đồng. Đối với các khoản vay trên, sau đó anh B trả góp tiền nợ gốc theo ngày, đến nay anh B mới trả góp tiền nợ gốc cho T được 19.500.000 đồng, còn nợ 8.000.000 đồng.

8. Tuyền cho chị Đào Thị D, sinh năm 1984, trú tại thôn L, xã T, huyện T vay 3 lần: ngày 16/8/2023, T cho chị D vay 12.500.000 đồng, thu lãi 2.500.000 đồng; ngày 24/9/2023, T cho chị D vay 17.500.000 đồng, thu lãi 3.500.000 đồng; ngày 26/9/2023, T cho chị D vay 2.500.000 đồng, thu lãi 500.000 đồng.

Tổng số tiền T cho chị D vay là 32.500.000 đồng, thu lãi 6.500.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 890.411 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 5.609.589 đồng. Đối với các khoản vay trên, sau đó chị D đều trả góp tiền nợ gốc theo ngày và đã trả được 11.900.000 đồng tiền nợ gốc, còn nợ lại T là 20.600.000 đồng.

9. Tuyền cho anh Trần Văn T2, sinh năm 1974, trú tại tổ dân phố M, thị trấn D, huyện T vay 2 lần: thời gian vào khoảng giữa tháng 8/2023 và tháng 9/2023, mỗi lần 12.500.000 đồng. Cả 02 lần cho vay, T đều thu luôn số tiền lãi là 2.500.000 đồng/lần.

Tổng số tiền T cho anh T2 vay là 25.000.000 đồng, thu lãi 5.000.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 684.932 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 4.315.068 đồng. Đến nay anh T2 đã trả góp đủ tiền nợ gốc cho T là 25.000.000 đồng.

10. Tuyền cho chị Tô Thị T3, sinh năm 1981, trú tại tổ dân phố số F, thị trấn D, huyện T vay 2 lần: thời gian vào khoảng giữa tháng 9/2023 và ngày 30/11/2023, mỗi lần 25.000.000 đồng. Cả 02 lần cho vay, T đều thu luôn số tiền lãi là 5.000.000 đồng/lần.

Tổng số tiền T cho chị T3 vay là 50.000.000 đồng, thu lãi 10.000.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 1.369.864 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 8.630.136 đồng. Đến nay chị T3 mới trả góp tiền nợ gốc cho T được 25.000.000 đồng, còn nợ 25.000.000 đồng.

11. Tuyền cho bà Bùi Thị A1, sinh năm 1965, trú tại tổ dân phố số E thị trấn D, huyện T vay 3 lần: khoảng giữa tháng 8/2023, T cho bà A1 vay 12.500.000 đồng, thu lãi 2.500.000 đồng; tháng 9/2023, T cho bà A1 vay 12.500.000 đồng, thu lãi 2.500.000 đồng; ngày 09/11/2023, T cho bà A1 vay 25.000.000 đồng, thu lãi 5.000.000 đồng.

Tổng số tiền T cho bà A1 vay là 50.000.000 đồng, thu lãi 10.000.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 1.369.864 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 8.630.136 đồng. Đến nay bà A1 đã nộp cho T 30.000.000 đồng nợ gốc, bà A1 còn nợ lại số tiền 20.000.000 đồng.

12. Tuyền cho ông Phạm Ngọc L2, sinh năm 1963, trú tại tổ A, phường K, thành phố T vay 2 lần: khoảng giữa tháng 8/2023, T cho ông L2 vay 12.500.000 đồng, thu lãi 2.500.000 đồng; ngày 26/11/2023, T cho ông L2 vay 25.000.000 đồng, thu lãi 5.000.000 đồng.

Tổng số tiền T cho ông L2 vay là 37.500.000 đồng, thu lãi 7.500.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 1.027.398 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 6.472.602 đồng. Đến nay ông L2 mới trả góp tiền nợ gốc cho T được 4.000.000 đồng, còn nợ lại 21.000.000 đồng.

13. Tuyền cho anh Tăng Văn P, sinh năm 1990, trú tại thôn Đ, xã D, huyện T vay 2 lần: ngày 19/8/2023, T cho anh P vay 12.500.000 đồng, thu 2.600.000 đồng (gồm tiền lãi là 2.500.000 đồng, phí làm hồ sơ 100.000 đồng); khoảng giữa tháng 11/2023, T cho anh P vay 22.500.000 đồng, thu 4.600.000 đồng (gồm tiền lãi là 4.500.000 đồng, phí làm hồ sơ 100.000 đồng).

Tổng số tiền T cho anh P vay là 35.000.000 đồng, thu lãi 7.000.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 958.904 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 6.041.096 đồng. Đến nay anh P mới trả góp tiền nợ gốc cho T được 13.500.000 đồng, còn nợ lại 21.500.000 đồng.

14. Tuyền cho chị Nguyễn Thị Huyền T4, sinh năm 1988, trú tại thôn V, xã D, huyện T vay 2 lần vào các ngày 14/8/2023 và 03/10/2023, mỗi lần 12.500.000 đồng. Cả 02 lần cho vay, T đều thu luôn số tiền lãi là 2.500.000 đồng/lần.

Tổng số tiền T cho chị T4 vay là 25.000.000 đồng, thu lãi 5.000.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 684.932 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 4.315.068 đồng. Đến nay chị T4 mới trả góp tiền nợ gốc cho T được 22.000.000 đồng, còn nợ 3.000.000 đồng.

15. Tuyền cho chị Trần Thị L3, sinh năm 1980, trú tại thôn P, xã T, huyện T vay 2 lần vào các ngày 18/8/2023 và 17/10/2023, mỗi lần 12.500.000 đồng. Cả 02 lần cho vay, T đều thu luôn số tiền lãi là 2.500.000 đồng/lần.

Tổng số tiền T cho chị L3 vay là 25.000.000 đồng, thu lãi 5.000.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 684.932 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 4.315.068 đồng. Đến nay chị L3 đã trả góp đủ tiền nợ gốc cho T là 25.000.000 đồng.

16. Tuyền cho chị Bùi Thị H, sinh năm 1994, trú tại thôn L, xã D, huyện T vay 2 lần vào các ngày 14/8/2023 và 05/10/2023. Cả 02 lần cho vay, T đều thu luôn số tiền lãi là 2.500.000 đồng/lần.

Tổng số tiền T cho chị H vay là 25.000.000 đồng, thu lãi 5.000.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 684.932 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 4.315.068 đồng. Đến nay chị H mới trả góp tiền nợ gốc cho T được 18.000.000 đồng, còn nợ 7.000.000 đồng.

17. Tuyền cho chị Vũ Thị H1, sinh năm 1972, trú tại thôn K, xã S, huyện H vay 2 lần: ngày 15/8/2023, T cho chị H1 vay 12.500.000 đồng, thu lãi 2.500.000 đồng; ngày 02/10/2023, T cho chị H1 vay 25.000.000 đồng, thu lãi 5.000.000 đồng.

Tổng số tiền T cho chị H1 vay là 37.500.000 đồng, thu lãi 7.500.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 1.027.398 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 6.472.602 đồng. Đến nay chị H1 đã trả góp đủ tiền nợ gốc cho T là 37.500.000 đồng.

18. Khoảng tháng 9/2023, T cho anh Đinh Ngọc D1, sinh năm 1968, trú tại thôn K, xã T, huyện T vay 17.500.000 đồng; thu lãi 3.500.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 479.452 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 3.020.548 đồng. Đến nay anh D1 đã trả góp đủ tiền nợ gốc cho T là 17.500.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như bản cáo trạng đã truy tố.

Ngày 12/12/2023, Phạm Văn T giao nộp tại Công an tỉnh T: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 17B6-397.18 kèm theo 01 đăng ký xe mang tên Giang Công B. Quá trình điều tra xác định chiếc xe này là tài sản của chị Đào Thị D, sinh năm 1984, trú tại thôn L, xã T, huyện T. Ngày 19/11/2023, Phạm Văn T cho chị D vay số tiền 6.000.000 đồng, không tính lãi; chị D tự nguyện giao cho T chiếc xe trên để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, thỏa thuận khi nào chị D trả tiền thì T trả lại xe cho chị D; sau đó T sử dụng chiếc xe này để đi lại, phục vụ nhu cầu cá nhân. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T xác định đây là quan hệ dân sự nên không xử lý đối với hành vi này.

Đối với anh Trương Hoàng G, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái (tài khoản số 19038851959015 mở tại Ngân hàng T6, chi nhánh Y mang tên anh G, số điện thoại đăng ký mở tài khoản là 0378.332.392). Anh G khai có lần làm rơi căn cước công dân, không tìm thấy; anh không mở và sử dụng tài khoản và số điện thoại trên. Anh G không có nhu cầu sử dụng và đề nghị xóa tài khoản trên. Phạm Văn T khai mua tài khoản này trên mạng xã hội của một người ẩn danh, không xác định được là ai. Đầu tháng 12 năm 2023 T đã làm mất chiếc thẻ ATM này, mặt khác bị cáo đã rút hết tiền trong tài khoản trên để chi tiêu. Xét thấy anh G không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của T nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với anh Trần Minh T5, sinh năm 1991, trú tại khu phố C, thị trấn V, huyện V, thành phố Hải Phòng có đi cùng Phạm Văn T đến nhà chị Đào Thị D, khi T và chị D thống nhất các khoản vay. Quá trình điều tra xác định anh T5 có quan hệ họ hàng với T, được T rủ sang huyện T chơi; anh T5 không biết việc T cho vay, thu lãi cao, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Bản cáo trạng số 38/CT-VKSTT ngày 25/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”

Căn cứ khoản 2, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điều 332, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự. Khoản 2 Điều 136, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 06 đến 09 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023.

Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Buộc bị cáo nộp số tiền gốc để cho vay và tiền lãi theo mức lãi suất 20%/năm tổng số tiền là 468.441.788 đồng để sung quỹ nhà nước.

Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng đồng, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số điện thoại 0981.683.xxx.

Buộc 13 người còn nợ bị cáo số tiền gốc phải nộp lại để sung quỹ nhà nước.

Buộc bị cáo trả lại số tiền thu lợi bất chính của 18 người vay.

Gia đình bị cáo đã nộp thay bị cáo số tiền 108.668.000 đồng tại Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án, cần được tiếp tục quản lý để đối trừ số tiền bị cáo phải nộp để sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người tham gia tố tụng tại phiên Tòa được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo phải nuôi con nhỏ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận: Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2023 đến tháng 12/2023, Phạm Văn T đã cho 18 người vay tiền với lãi suất nặng, gồm: chị Lê Thái A, chị Lê Thị C, anh Nguyễn Văn T1, chị Đào Thị L4, anh Bùi Hữu D2, anh Nịnh Văn L1, anh Giang Công B, chị Đào Thị D, anh Trần Văn T2, chị Tô Thị T3, bà Bùi Thị A1, ông Phạm Ngọc L2, anh Tăng Văn P, chị Nguyễn Thị Huyền T4, chị Trần Thị L3, chị Bùi Thị H, chị Vũ Thị H1, anh Đinh Ngọc D1, tổng số tiền cho vay là 627.500.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương đương với mức lãi suất 146%/năm, gấp 7,3 lần so với mức lãi suất cao nhất trong giao dịch dân sự, quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền lãi mà Phạm Văn T thu được từ việc cho vay tiền là 125.500.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 17.191.788 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 108.308.212 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Biên bản làm việc, kiểm tra điện thoại của Phạm Văn T; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu lập hồi 12 giờ ngày 12/12/2023 tại Công an tỉnh T đối với 01 USB màu bạc nhãn hiệu KINGSTON, dung lượng 4GB, chứa 02 đoạn video trong máy điện thoại di động thu giữ của Phạm Văn T liên quan đến việc T cho chị Đào Thị L4, anh Giang Công B, chị Đào Thị D, anh Nịnh Văn L1 vay tiền; Biên bản giao nhận tài liệu lập hồi 13 giờ ngày 12/12/2023 tại Công an tỉnh T đối với Sổ kế tài khoản Ngân hàng V, số tài khoản 105874104048, chủ tài khoản Phạm Văn T; Biên bản giao nhận tài liệu lập ngày 12/12/2023, 13/12/2023 và 14/12/2023 tại Công an tỉnh T, thu giữ của Phạm Văn T: tờ rơi (card) quảng cáo cho vay tiền, giấy ghi chép theo dõi trả nợ, tin nhắn điện thoại của người vay; Biên bản làm việc giữa Phạm Văn T và 18 người vay tiền về việc thống nhất các khoản vay do Công an tỉnh T lập ngày 14/12/2023; Biên bản giao nhận tài liệu đồ vật, dữ liệu điện tử; biên bản niêm phong đối với 01 USB chứa đoạn video do chị Đào Thị D giao nộp, lập ngày 13/12/2023 tại Công an tỉnh T, nội dung video liên quan đến việc Phạm Văn T và chị D thống nhất các khoản vay, trả nợ; Kết luận giám định số 10/KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng Kĩ Công an tỉnh T đối với 03 tập tin, đoạn video trong 02 chiếc USB đã quản lý của Phạm Văn T và chị Đào Thị D: “Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh”; Công văn số 342 ngày 21/12/2023 của Ngân hàng T6, chi nhánh Y cung cấp thông tin về tài khoản số 19038851959015, chủ tài khoản Trương Hoàng G, sinh năm 1988, địa chỉ tại phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, kèm theo bản sao kê chi tiết giao dịch từ ngày 20/4/2023 đến ngày 08/12/2023; Biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật hình sự. Do đó có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Điều 201. Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

[3] Về tính tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Phạm Văn T, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo đã tự nguyện nộp thay bị cáo số tiền 108.668.000 đồng và bị cáo có ông ngoại được tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. HĐXX thấy rằng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân thu lợi bất chính với số tiền tương đối lớn của nhiều người nên cần thiết phải xử bị cáo một mức án nghiêm minh, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên bị cáo lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo phạm tội nhằm mục đích thu lời bất chính nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Đối với khoản tiền gốc bị cáo dùng để cho vay là 627.500.000 đồng (trong đó bị cáo đang quản lý 451.250.00 đồng và 13 người còn nợ bị cáo 176.250.000 đồng) là phương tiện phạm tội cần tịch thu để sung quỹ nhà nước của những người đang quản lý số tiền trên để sung quỹ nhà nước.

[6] Đối với số tiền bị cáo thu lợi bất chính là tiền lãi vượt quá 20%/năm cần trả lại những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[7] Đối với khoản tiền tương ứng lãi suất 20%/năm mà bị cáo nhận từ những người vay là số tiền lãi phát sinh từ hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

[8] Về vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng đồng, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số điện thoại 0981.683.xxx là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 2, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điều 332, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự. Khoản 2 Điều 136, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 06 (sáu) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 40.000.000 đồng.

3. Tịch thu của bị cáo Phạm Văn T tổng số tiền là 468.441.788 đồng để sung quỹ nhà nước. Tịch thu sung quỹ của bị cáo Phạm Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng đồng, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số điện thoại 0981.683.xxx. (Có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản tại Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy).

4. Tịch thu của 13 người còn nợ bị cáo T số tiền gốc để sung quỹ Nhà nước cụ thể như sau:

  • - Chị Lê Thị C phải nộp 11.250.000 đồng.
  • - Anh Nguyễn Văn T1 phải nộp 10.500.000 đồng.
  • - Chị Đào Thị L4 phải nộp 11.700.000 đồng.
  • - Anh Bùi Hữu D2 phải nộp 7.500.000 đồng.
  • - Anh Nịnh Văn L1 phải nộp 9.200.000 đồng.
  • - Anh Giang Công B phải nộp 8.000.000 đồng.
  • - Chị Đào Thị D phải nộp 20.600.000 đồng.
  • - Chị Tô Thị T3 phải nộp 25.000.000 đồng.
  • - Bà Bùi Thị A1 phải nộp 20.000.000 đồng.
  • - Ông Phạm Ngọc L2 phải nộp 21.000.000 đồng.
  • - Anh Tăng Văn P phải nộp 21.500.000 đồng.
  • - Chị Nguyễn Thị Huyền T4 phải nộp 3.000.000 đồng.
  • - Chị Bùi Thị H phải nộp 7.000.000 đồng.

5. Buộc bị cáo Phạm Văn T phải trả lại 18 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan số tiền bị cáo thu lợi bất chính, cụ thể như sau:

  • - Trả lại chị Lê Thái A 11.650.686 đồng.
  • - Trả lại chị Lê Thị C 10.356.164 đồng.
  • - Trả lại anh Nguyễn Văn T1 6.472.602 đồng.
  • - Trả lại chị Đào Thị L4 4.315.068 đồng.
  • - Trả lại anh Bùi Hữu D2 6.472.602 đồng.
  • - Trả lại anh Nịnh Văn L1 2.157.534 đồng.
  • - Trả lại anh G Công Bình 4.746.575 đồng.
  • - Trả lại chị Đào Thị D 5.609.589 đồng.
  • - Trả lại anh Trần Văn T2 4.315.068 đồng.
  • - Trả lại chị Tô Thị T3 8.630.136 đồng.
  • - Trả lại bà Bùi Thị A1 8.630.136 đồng.
  • - Trả lại ông Phạm Ngọc L2 6.472.602 đồng.
  • - Trả lại anh Tăng Văn P 6.041.096 đồng.
  • - Trả lại chị Nguyễn Thị Huyền T4 4.315.068 đồng.
  • - Trả lại chị Trần Thị L3 4.315.068 đồng.
  • - Trả lại chị Bùi Thị H 4.315.068 đồng.
  • - Trả lại chị Vũ Thị H1 6.472.602 đồng.
  • - Trả lại anh Đinh Ngọc D1 3.020.548 đồng.

Đối trừ số tiền gia đình bị cáo đã nộp thay bị cáo 108.668.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002586 ngày 06/3/2024 tại Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 9 Luật thi hành án dân sự; điều 7 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 09/5/2024. Chị Lê Thái A, chị Lê Thị C, anh Nguyễn Văn T1, chị Đào Thị L4, anh Bùi Hữu D2, anh Nịnh Văn L1, anh Giang Công B, chị Đào Thị D, anh Trần Văn T2, chị Tô Thị T3, bà Bùi Thị A1, ông Phạm Ngọc L2, anh Tăng Văn P, chị Nguyễn Thị Huyền T4, chị Trần Thị L3, chị Bùi Thị H, chị Vũ Thị H1, anh Đinh Ngọc D1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp pháp.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
  • - VKSND Thái Thụy;
  • - Trại tạm giam Thái Bình;
  • - Công an Thái Thụy;
  • - Chi cục THADS Thái Thụy;
  • - CQ THAHS huyện Thái Thụy.
  • - Tòa án tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu HCTP;
  • - Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CHo vay lãi nặng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger