Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ ANH

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 59/2023/HS-ST

Ngày: 07-11-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Toàn

Ông Ngô Đình Vinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Chính - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tạ Văn V; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 29 tháng 02 năm 1976, tại xã N, huyện T, tỉnh Quảng Nam; Nơi thường trú và chổ ở hiện nay: 2 B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 07/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Con ông Tạ T và bà Nguyễn Thị N; Có vợ: Chị Đặng Thị Hồng P và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk từ ngày 12/9/2023 đến nay. (Có mặt)

Những người tham gia tố tụng khác:

  1. Đại diện gia đình người bị hại: Anh Võ Anh T1, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề ngiệp: Lao động tự do. ( Có mặt)
  2. Nguyên đơn dân sự: Công ty TNHH T7; Địa chỉ: Số D, N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hải C1, sinh năm 1967. Trú tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắc Lắc, chức vụ - Giám đốc Công ty ( Vắng mặt)
  3. Người làm chứng:
    • - Lương Thị N1, sinh năm: 1989; Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. ( Vắng mặt)
    • - Nguyễn Thị H, sinh năm: 1949; Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. ( Vắng mặt)
    • - Trần Hồng G, sinh năm: 1994; Nơi cư trú: xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do. ( Vắng mặt)
    • - Trương Văn S, sinh năm: 2002; Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Lao động tự do. ( Vắng mặt)
    • - Nguyễn Nhật T2, sinh năm: 1995; Nơi cư trú: xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Lao động tự do. ( Vắng mặt)
    • - Hoàng Xuân T3, sinh năm: 1986; Nơi cư trú: thị trấn E, huyện E, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Giáo viên. ( Vắng mặt)
    • - Hoàng Đình H1, sinh năm: 2006; Nơi cư trú: xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Sinh viên. (Vắng mặt)
    • - Lê Văn Đ, sinh năm: 2003; Nơi cư trú: xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Vắng mặt)
    • - Ngô Thị A, sinh năm: 1960; Nơi cư trú: Số B N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Hưu trí. (Vắng mặt)
    • - Hoàng Thị Đ1, sinh năm: 2002; Nơi cư trú: Thôn A, xã C, huyện B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Vắng mặt)
    • - Hà Văn L, sinh năm: 1994; Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Vắng mặt)
    • - Phạm Phương T4, sinh năm: 1988; Nơi cư trú: Khôi T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Vắng mặt)
    • - Nguyễn Quốc M, sinh năm: 1979; Nơi cư trú: Số B H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Lái xe. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tạ Văn V có giấy phép lái xe ô tô số: [...], hạng E, do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 10/3/2020 (Có giá trị đến ngày 10/3/2025). V hợp đồng lái xe ô tô cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T7 chở khách chạy theo tuyến Đắk Lắk đi Hà Nội và ngược lại. Sáng ngày 23/7/2023 xe ô tô khách biển kiểm soát 47B-015.65 xuất phát từ thành phố Hà Nội chở khách về tỉnh Đắk Lắk, trên đường đi do Tạ Văn VNguyễn Quốc M thay nhau điều khiển. Khoảng 17 giờ cùng ngày, xe ô tô biển kiểm soát 47B-015.65 do Tạ Văn V điều khiển đi đến K đường Q, nơi có khoảng hở của dải phân cách cố định, có gờ giảm tốc độ và có vạch sơn dành cho người đi bộ qua đường, thuộc địa phận thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh thì phát hiện phía trước có một người điều khiển xe đạp đi từ làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ bên phải qua bên trái đường để qua khoảng hở của dải phân cách cố định. Mặc dù phát hiện có người điều khiển xe đạp đi qua đường, nhưng Tạ Văn V vẫn không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn. Khi người điều khiển xe đạp đi sang đến làn đường xe cơ giới số 1 bên trái (Làn đường sát với dải phân cách cố định bên trái, tính theo chiều xe ô tô 47B-015.65 chạy) thì xe ô tô do Tạ Văn V điều khiển cũng vừa đi tới, Tạ Văn V đánh lái để tránh nhưng không kịp, nên phía trước bên trái xe ô tô biển kiểm soát 47B-015.65 do Tạ Văn V điều khiển đã đâm vào người điều khiển xe đạp, làm cho người và xe đạp ngã xuống mặt đường. Điểm va chạm giữa xe ô tô với người điều khiển xe đạp ở trên làn đường xe cơ giới số 1 (Làn đường sát với dải phân cách cố định) và ngay trên vạch sơn dành cho người đi bộ qua đường phía bên trái (tính theo chiều xe ô tô 47B-015.65 chạy). Hậu quả vụ tai nạn làm người điều khiển xe đạp đang đi qua đường là ông Võ Xuân T5, sinh năm 1945, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh bị chết sau khi đưa đi bệnh viện cấp cứu, xe ô tô bị hư hỏng thiệt hại 8.200.000 đồng (Tám triệu hai trăm nghìn đồng), xe đạp bị hư hỏng thiệt hại 360.000 đồng (Ba trăm sáu mươi nghìn đồng).

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Tại biên bản khám nghiện hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông do Cơ quan điều tra lập hồi 17 giờ 09 phút ngày 23/7/2023 phản ánh: vụ tai nạn xảy ra ở Km 560 đường Q nơi có khoảng hở của dải phân cách cố định, có gờ giảm tốc độ và vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường thuộc địa phận thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, giữa xe ô tô biển kiểm soát 47B-015.65 với người điều khiển xe đạp qua đường. Mặt đường Quốc Lộ A được rải nhựa bằng phẳng và chia thành hai phần đường, ở giữa có dải phân cách cứng cố định. Phần đường bên phải theo hướng xe ô tô 47B-015.65 chạy có tầm nhìn tốt, rộng 9,0m, được kẻ vạch phân cách thành ba làn đường, hai làn đường dành cho xe cơ giới, mỗi làn rộng 3,50m, làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ rộng 2,0m. Phần đường bên phải tính theo chiều xe ô tô 47B-015.65 chạy, trên mặt đường có gờ giảm tốc độ và vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường. Khoảng hở của dải phân cách cố định có chiều rộng 28,3m.

- Đánh số thứ tự các dấu vết: (1) vết cày mặt đường; (2) vết cày mặt đường; (3) vết cày mặt đường; (4) mãnh kính vỡ; (5) vết chà lốp; (6) xe ô tô đậu; (7) vết máu; (8) xe đạp.

- Xác định mốc cố định: Lấy cột mốc Km 560 ở bên mép đường Q phía bên phải theo chiều B vào N làm điểm mốc và lấy mép đường Q phía bên phải làm điểm chuẩn, tất cả đều tính theo hướng từ Bắc vào N, các dấu vết để lại hiện trường như sau:

- Mô tả dấu vết hiện trường: Trên phần đường bên phải theo chiều xe ô tô 47B-015.65 chạy có ba vạch giảm tốc độ, có kích thước rộng 3,50m, dài 9,0m; cách vạch giảm tốc độ thứ nhất về hướng Nam 38m là vạch giảm tốc độ thứ hai; cách vạch giảm tốc độ thứ hai về hướng Nam 16,5m là vạch giảm tốc độ thứ ba; Cách vạch giảm tốc độ thứ ba về hướng Nam 05m là điểm đầu của khoảng hở dải phân cách cố định; từ đầu vạch giảm tốc độ thứ nhất đến điểm đầu khoảng hở của dải phân cách cố định có tổng chiều dài 69m; khoảng hở của dải phân cách cố định có chiều rộng 28,3m. Cách vạch giảm tốc độ thứ nhất về hướng Nam 47m là cột mốc Km 560; cách cột mốc Km 560 về hướng Nam 36,5m là điểm đầu vết cày mặt đường số (1), đầu vết cày cách mép đường nhựa bên phải 06m, kéo dài 0,2m về hướng Nam; cách điểm cuối vết cày số (1) về hướng Nam 0,2m là điểm đầu vết cày mặt đường số (2), đầu vết cày cách mép đường nhựa bên phải 06m, kéo dài 0,2m về hướng Nam; cách điểm cuối vết cày số (2) về hướng Nam 0,23m là điểm đầu vết cày mặt đường số (3), đầu vết cày cách mép đường nhựa bên phải 6,01m, kéo dài 1,2m về hướng Nam; cách điểm cuối vết cày (3) về hướng Nam 1,2m là điểm đầu vết chà lốp (4), điểm đầu vết chà lốp cách mép đường nhựa bên phải 7,2m, kéo dài 2,69m về hướng Nam; cách điểm cuối vết cày mặt đường (3) về hướng nam 2,24m là vùng mãnh vỡ kính có kích thước 0,12mx0,04m, tâm mảnh vỡ kính cách mép đường nhựa bên phải 8,4m; cách điểm cuối vết chà lốp về hướng Nam 21,57m là tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô 47B-015.65 liên quan đến tai nạn đậu trên làn đường xe cơ giới số 1 và 2, đầu quay về hướng N2, đuôi quay về hướng bắc, trục bánh sau bên trái xe ô tô 47B-015.65 cách mép đường nhựa bên phải 6,93m, trục bánh trước bên trái xe ô tô 47B-015.65 cách mép đường nhựa bên phải 6,9m; cách trục bánh sau bên trái xe ô tô 47B-015.65 đậu về hướng Nam 2,7m là tâm vết máu, vết máu có kích thước 0,5mx0,35m; cách tâm vết máu (7) về hướng Nam 5,4m là trục bánh trước xe đạp (8) liên quan đến tai nạn nằm ngả nghiêng về phía bên phải và ngay trước bên trái đầu xe ô tô 47B-015.65 liên quan đến tai nạn, trục bánh trước xe đạp cách mép đường nhựa bên phải 7,33m, trục bánh sau cách mép đường nhựa bên phải 6,71m.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện phản ánh:

+ Tại biên bản khám xe ô tô biển kiểm soát 47B-015.65 liên quan đến vụ tai nạn phản ánh: Góc bên trái kính chắn gió phía trước nứt vỡ, kích thước 107cmx96cm, trên vùng nứt vỡ có tâm nứt, kích thước 26cmx22cm, tâm cách mặt đất 1,48m theo chiều từ trước ra sau; Góc bên trái nắp C2 có vết móp lõm, nứt vỡ, kích thước 62cmx21cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm cách mặt đất 121cm, cách thành xe bên trái xe 59cm; Góc bên trái nắp C2 (Vị trí dưới cần gạt nước bên trái) có vết nứt vỡ dài 5,5cm, bên trên có bám dính sợi vải màu xanh, tâm cách mặt đất 105cm, cách thành xe bên trái xe 70cm; Góc dưới bên trái nắp C2 có vết móp lõm, kích thước 81cmx16cm, chiều từ trước ra sau, tâm cách mặt đất 94cm, cách thành xe bên trái xe 87cm; Góc trái của nắp Capo, cốp phía dưới bị bung các chốt cố định về phía trên, có dấu vết gãy vỡ, kích thước 7,5cmx02cm, tâm cách mặt đất 85cm, cách thành xe bên trái xe 60cm; Phần bên trái Ba đờ xốc phía trước, vị trí bên trái biển kiểm soát có ba dấu vết, vết một có vết vỡ, bong tróc sơn, kích thước 11cmx16cm, chiều từ trái sang phải, tâm cách mặt đất 34cm, cách thành xe bên trái xe 102cm; dấu vết thứ hai trượt xước sơn, kích thước 30cmx19cm, chiều từ dưới lên trên, từ phải sang trái, tâm cách mặt đất 50cm, cách thành xe bên trái 82cm; dấu vết thứ ba trượt xước mất sơn, kích thước 25cmx21cm, chiều từ phải sang trái, tâm cách mặt đất 48cm, cách thành bên trái xe 58,5cm; Mặt ngoài của cụm đèn trước bên trái có vết trượt xước, kích thước 31cmx11cm, chiều từ trước ra sau, từ phải sang trái, tâm cách mặt đất 85cm; Mặt ngoài ốp cụm đèn phía trước bên trái có vết trượt tạo thành đường song song, kích thước 40cmx16,5cm, chiều từ trước ra sau, tâm cách mặt đất 80cm; Mặt ngoài phía bên trái thân xe phía trước có bám dính chất bẩn màu đen, kích thước 32cmx35cm, tâm cách mặt đất 85cm, chiều từ trước ra sau, từ trên xuống dưới.

+ Tại biên bản khám xe đạp liên quan đến vụ tai nạn phản ánh: Giỏ xe phía trước bị gãy vỡ bung rời, phần đế giỏ bị xô lệch theo chiều từ trái sang phải; Mặt ngoài thanh kim loại phía bên trái của cố định giỏ xe có bám dính chất màu trắng xám, kích thước 03cmx0,5cm, tâm cách mặt đất 43,5 cm; Mặt bên trái của ốc trục bánh trước bên trái bám dính chất màu trắng xám, kích thước 0,7cmx0,5cm, tâm cách mặt đất 32,5cm; Má lốp bên trái phía trước có dấu vết trượt xước, kích thước 55cmx16,5 cm, vị trí gần nhất cách chân vam là 23cm, theo chiều tịnh tiến của xe; Tay lái bên trái bị cong gập chiều từ trước ra sau, từ trái sang phải, tâm cách mặt đất 1,4m; Cổ phuộc xe bị xô lệch, chiều từ trái sang phải, khung xe phía trên có dấu vết móp méo, cong vênh, kích thước 5,5cmx3cm, chiều từ trái sang phải, tâm cách mặt đất 62cm; Mặt ngoài cần bàn đạp bên trái có dấu vết trượt xước, bám dính chất màu trắng ở hai vị trí, vị trí thứ nhất có kích thước 02cmx1,2cm, vị trí thứ hai, kích thước 2,5cmx1,5cm, chiều từ trái sang phải; Phần phía trước chắn bùn bánh sau có dấu vết móp méo, kích thước 06cmx03cm, chiều từ trái sang phải, tâm cách mặt đất 38,5cm; Mặt bên trái của ổ khóa phía sau có dấu vết bám dính chất bẩn màu trắng, kích thước 04cmx1,5cm, tâm cách mặt đất 61,5cm; Càng xe, thanh phía trên bám dính chất bẩn màu trắng, kích thước 08cmx01cm, tâm cách mặt đất 52cm; T6 đỡ giàn đèo bên trái bị gãy phần tiếp giáp trục bánh xe, cụm ốc trục khung xe bên trái phía sau có bám dính chất màu trắng, kích thước 14cmx5,5cm, tâm cách mặt đất 32,5cm; Đầu tay lái bên phải có dấu vết trượt xước nhựa, kích thước 02cmx2,5cm, tâm cách mặt đất 108cm; Mặt ngoài bàn đạp phải có vết trượt xước nhựa, kích thước 06cmx2,5cm.

* Kết luận điểm va chạm:

Theo kết luận giám định số 752/KL-KTHS, ngày 11/8/2023 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh H kết luận: Xe ô tô mang biển kiểm soát 47B-015.65 và xe đạp có va chạm với nhau. Ốp cụm đèn phía trước bên trái, phần bên trái Ba đờ xốc phía trước xe ô tô mang biển kiểm soát 47B-015.65 với giỏ xe, ổ khóa bánh sau, cụm ốc trục và khung xe phía sau bên trái (Vị trí gần trục bánh sau) xe đạp màu trắng là vị trí va chạm của hai phương tiện.

* Kết quả khám nghiệm tử thi:

Tại biên bản khám nghiệm tử thi ngày 23/7/2023 và Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 720/KL-KTHS ngày 03/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh H xác định: nạn nhân Võ Xuân T5, sinh năm 1945, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, các dấu vết để lại như sau: Vùng đỉnh chẩm, cách vành tai trái 10cm, cách đường chân tóc gáy 09cm có đám sưng nề kích thước 10cmx12cm, trên nền sưng nề có đám xây xát da, kích thước 7,5cmx11cm và vết dập da, kích thước 1,5cmx0,5cm; Từ đuôi mắt trái đến dái tai có vết thương không liên tục, kích thước: 12cmx1cm; Gãy xương đòn trái; Tràn khí dưới da vùng ngực hai bên; Gãy kín xương sườn số 5, 6, 7, 8, 9 cung trước bên phải; Gãy kín xương sườn số 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 cung trước bên trái; Trật đốt sống lưng L1, L2; Vùng lưng từ bả vai hai bên xuống đến vùng thắt lưng bị xây xát da trên diện: 32cmx50cm; Khuỷu tay trái có vết xây xát da, kích thước 07cmx4cm; Gãy cổ xương đùi bên trái; Mặt trong 1/3 giữa cẳng chân phải có vết thương, kích thước 03cmx02cm; Gót chân trái có vết thương kích thước 04cmx2cm; Ngón 1 bàn chân trái bị mài mòn da không liên tục, kích thước 12cmx1cm. Giải phẩu vùng ngực: Khoang ngực chứa nhiều máu loãng màu nâu đen; Dập rách phổi hai bên (Do xương sườn gãy chọc vào). Nguyên nhân chết xác định Đ2 chấn thương.

* Kết quả định giá thiệt hại tài sản:

Theo kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐG ngày 10/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K kết luận: Xe ô tô biển kiểm soát 47B-015.65 bị hư hỏng, thiệt hại 8.200.000 đồng (Tám triệu hai trăm nghìn đồng). Theo kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐG ngày 10/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K kết luận: Xe đạp bị hư hỏng, thiệt hại 360.000 đồng (Ba trăm sáu mươi nghìn đồng).

* Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và chất ma túy:

- Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K lập hồi 19 giờ 41 phút ngày 23/7/2023 xác định: nồng độ cồn của Tạ Văn V tại thời điểm kiểm tra là 0,000/L khí thở.

- Tại phiếu xét nghiệm kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm y tế huyện K, tỉnh Hà Tĩnh ngày 23/7/2023, xác định Tạ Văn V, âm tính với các chất ma túy.

* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng:

Qúa trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện K đã thu giữ xử lý vật chứng gồm:

  • - 01 (Một) xe ô tô biển kiểm soát 47B-015.65, đã qua sử dụng; (Một) Giấy biên nhận giữ bản chính, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, biển kiểm soát 47B-015.65; (Một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỷ thuật và bảo vệ môi trường của xe ô tô 47B-015.65, thu của Tạ Văn V, nay đã trả lại cho chủ sở hữu anh Nguyễn Hải C1.
  • - 01 (Một) xe đạp màu trắng, thu tại hiện trường, nay đã trả lại cho đại diện người bị hại anh Võ Anh T1.
  • - 01 (Một) giấy phép lái xe số [...], hạng E, do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 10/3/2020, mang tên Tạ Văn V, nay chuyển theo hồ sơ vụ án.

* Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi tai nạn xẩy ra, Tạ Văn V đã cùng với gia đình đã chi phí mai táng cho nạn nhân Võ Xuân T5 và thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại với tổng số tiền 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng). Nay đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị can. Đối với xe ô tô biển kiểm soát 47B-015.65 của anh Nguyễn Hải C1 bị hư hỏng gây thiệt hại 8.200.000 đồng (Tám triệu hai trăm nghìn đồng), nay anh C1 không yêu cầu bị can Tạ Văn V phải bồi thường.

Bản cáo trạng số 55/CT-VKS-HKA ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Tạ Văn V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Tạ Văn V mức án từ 15 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề đối với bị cáo; Đề nghị trả lại cho bị cáo một giấy phép lái xe sau khi bản án có hiệu lực pháp luật;

Tại phiên tòa, bị cáo, đại diện gia đình bị hại không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ ngày 23/7/2023, Tạ Văn V (có giấy phép lái xe hợp lệ), điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 47B-015.65 chạy trên đường Q, theo hướng từ Bắc vào N, khi đi đến K đường Q, (Nơi có khoảng hở của dải phân cách cố định, có gờ giảm tốc độ và có vạch sơn dành cho người đi bộ qua đường), thuộc địa phận thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, do không giảm tốc độ, nhường đường để đảm bảo an toàn khi có người điều khiển xe đạp qua đường, nên đã đâm vào người ông Võ Xuân T5 đang điều khiển xe đạp đi qua đường theo hướng từ phải sang trái theo hướng đi của V, trên làn đường xe cơ giới thứ nhất (Làn đường sát với giải phân cách cố định) của phần đường bên phải (tính theo hướng từ B vào N). Hậu quả ông Võ Xuân T5 bị chết sau khi đưa đi bệnh viện cấp cứu. Xe ô tô bị hư hỏng thiệt hại 8.200.000 đồng (Tám triệu hai trăm nghìn đồng), xe đạp bị hư hỏng thiệt hại 360.000 đồng (Ba trăm sáu mươi nghìn đồng). Nguyên nhân của vụ tai nạn lỗi thuộc về Tạ Văn V, điều khiển xe ô tô thiếu chú ý quan sát, không chấp hành vạch chỉ dẫn để giảm tốc độ và nhường đường cho người và phương tiện đi qua đường dẫn đến gây ra vụ tai nạn. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi vô ý. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm và gây tổn hại đến tính mạng của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây búc xúc trong quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, đại diện gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu nên không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp.

4]. Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm” Nhưng HĐXX nhận thấy không cần thiết cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.

[5] Về dân sự: Bị cáo đã lo mai táng cho nạn nhân Võ Xuân T5 và bồi thường cho gia đình bị hại với tổng số tiền 180.000.000 đồng, nay đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự Công ty TNHH T7 không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 47B-015.65 nên miễn xét.

[6] Về vật chứng: 01 (Một) xe ô tô biển kiểm soát 47B-015.65; 01 (Một) giấy biên nhận giữ bản chính, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, biển kiểm soát 47B-015.65; 01 (Một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe ô tô 47B-015.65, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Hải C1, 01 (Một) xe đạp màu trắng đã trả lại cho đại diện gia đình bị hại là phù hợp. Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo Tạ Văn V 01 (Một) giấy phép lái xe số [...], hạng E, do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 10/3/2020, mang tên Tạ Văn V.

[6] Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án đề nghị là phù hợp.

[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, Khoản 1, Điều 3; khoản 1, Điều 21, Điểm a, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện cho gia đình người bị hại, nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ, điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Khoản 1, điểm b, Khoản 3, Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điểm a, Khoản 1, Điều 3; khoản 1, Điều 21, Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố bị cáo: Tạ Văn V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt Tạ Văn V 15 (Mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 07/11/2023.

Giao bị cáo Tạ văn V1 cho UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Trả lại cho bị cáo Tạ Văn V 01 (Một) giấy phép lái xe số [...], hạng E, do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 10/3/2020, mang tên Tạ Văn V.

Về án phí: Buộc bị cáo Tạ Văn V phải chịu 200.000 đông (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Nguyên đơn dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án về các nội dung liên quan của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - VKSND huyện Kỳ Anh;
  • - THADS huyện Kỳ Anh;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện GĐ bị hại
  • - NDDS
  • - Công an huyện Kỳ Anh;
  • - THAHS huyện Kỳ Anh;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Quang Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2023/HS-ST ngày 07/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 59/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tạ Văn V vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger