Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07-6-2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thành Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lương Thanh Kỳ.
  2. Bà Trần Thị Hoa.

Thư ký phiên tòa: Ông Quách Kim Lân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán không tham gia phiên tòa.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án thụ lý số 149/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm: 1982.
  2. Địa chỉ: Thôn B Nghĩa Trang, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Bị đơn: Anh Trần Quốc B, sinh năm: 1983.
  4. Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

(Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21/3/2024; bản tự khai nguyên đơn là chị Lê Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Quốc B tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/9/2007. Vợ chồng chung sống đến thời gian gần đây thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau nên bất đồng quan điểm sống với nhau, cuộc sống vợ chồng không hòa thuận với nhau nên hai vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cãi nhau. Hiện nay chị và anh B không còn chung sống với nhau. Nay chị nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Trần Quốc B.

- Về con chung: Chị và anh B có 02 con chung tên là Trần Thị Bích N, sinh ngày 04/7/2007 và Trần Quốc H, sinh ngày 26/8/2011. Chị T có yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 19/4/2024, bị đơn là anh Trần Quốc B trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/9/2007. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp nhau nên bất đồng quan điểm sống với nhau, cuộc sống vợ chồng không hòa thuận với nhau nên hai vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cãi nhau. Hiện nay anh và chị T không còn chung sống với nhau. Nay chị T có yêu cầu được ly hôn với anh thì anh đồng ý.

- Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung tên là Trần Thị Bích N, sinh ngày 04/7/2007 và Trần Quốc H, sinh ngày 26/8/2011. Anh đồng ý giao 02 con chung cho chị T nuôi dưỡng, tạm thời anh không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán không tham gia phiên tòa theo Văn bản số 190/CV-VKS-DS ngày 01/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn anh Trần Quốc B hiện cư trú tại ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Định Quán theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ pháp luật: Chị T yêu cầu khởi kiện ly hôn với anh B, yêu cầu được nuôi con nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về xác định tư cách đương sự: Chị Lê Thị T là nguyên đơn; anh Trần Quốc B là bị đơn theo Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Về thủ tục tống đạt: Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị T và anh B theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Về quan hệ hôn nhân: Qua lời khai của các đương sự cùng tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện anh B và chị T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai nên được xem là hôn nhân hợp pháp.

Do cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra xung đột trong cuộc sống, chị T và anh B hiện nay không còn chung sống với nhau, anh B cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T. Từ đó cho thấy, tình trạng hôn nhân của chị T, anh B mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[6] Về con chung: Chị T và anh B có 02 con chung tên là Trần Thị Bích N, sinh ngày 04/7/2007 và Trần Quốc H, sinh ngày 26/8/2011. Chị T có yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung; anh B cũng đồng ý giao con chung cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử giao con chung cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị T không yêu cầu nên tạm thời anh B không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

[7] Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét.

[8] Về án phí: Chị Lê Thị T chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán là phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, 10, 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị T được ly hôn với anh Trần Quốc B.
  2. Về con chung: Giao con chung tên là Trần Thị Bích N, sinh ngày 04/7/2007 và Trần Quốc H, sinh ngày 26/8/2011 cho chị T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động.

Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm thời anh B không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.

Khi ly hôn, pháp luật vẫn bảo hộ mọi quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con chung (quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; quyền thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con...)

  1. Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng chị T đã nộp (biên lai số 0014267 ngày 05/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán) được cấn trừ qua án phí. Chị T đã nộp đủ.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Nơi nhận :

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán;
  • - Thi hành án dân sự huyện Định Quán;
  • - Ủy ban nhân dân cấp xã (ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu án văn;
  • - Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thành Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 59/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết Ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Trần Quốc B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger