|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày: 07 - 05 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Chánh Bồn;
2. Bà Nguyễn Thị Liệu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Thọ - Kiểm sát viên.
***
Hôm nay, ngày 07 tháng 05 năm 2024, tại Hội trường xét xử A, tầng trệt - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2024/TLST- HS ngày 17 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 61/2024/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 04 năm 2024 và Thông báo về việc dời phiên tòa xét xử số: 12/TB-TA 25 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Minh V, sinh năm 1985, tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú trước khi bắt: Khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Sửa chữa điện tử; Trình độ học vấn: 04/12; Con Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1961 và bà Bùi Thị T, sinh năm 1961; Gia đình bị cáo 06 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo có vợ tên Lê Thị Mỹ K, sinh năm 1986 và 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không.
- Về nhân thân: Ngày 18/8/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ khởi tố về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323.
Bị bắt qua tang ngày 20/12/2023, đến ngày 21/12/2023 bị tạm giữ, sau đó đến ngày 30/12/2023 chuyển tạm giam và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Đồng Nai cho đến nay.
(Bị cáo V có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Minh V là đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy đá. Vào lúc 19 giờ 00 phút ngày 19/12/2023, do nhu cầu sử dụng ma túy nên V đến khu vực đường giao thông thuộc ấp G, xã G, Đ tìm gặp một người có tên thường gọi là T1 (V không rõ nhân thân, lai lịch của T1) để hỏi mua hai bịch ma túy của T1 với giá 1.000.000 đồng, T1 đồng ý bán ma túy cho V. Sau khi mua được ma túy, V đi về nhà trọ “Hai Thiệu” của V đang thuê thuộc khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ và lấy một phần ma túy ra để sử dụng cho bản thân, phần ma túy còn lại V cất giấu trong hộp nhựa để sát ngay cánh cửa lối ra vào nhằm mục đích sử dụng cho lần sau. Đến khoảng 22 giờ ngày 20/12/2023, khi V đang ở nhà trọ thì bị lực lượng Công an kiểm tra và phát hiện bắt quả tang và thu giữ của V gồm: 02 bịch ma túy V đang cất giấu trong hộp nhựa để ngay sát cánh cửa lối ra vào và 01 nỏ thủy tinh V dùng để sử dụng ma túy.
Căn cứ Bản kết luận số 2851/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ xác định: Mẫu tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Minh V được niêm phong gửi đến giám định là ma túy có khối lượng 1,4573 gam Methamphetamine (Bút lục số 26).
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ, Nguyễn Minh V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân (bút lục từ số 28 - 38).
Vật chứng vụ án:
- - 01 gói niêm phong mẫu vật ma túy (sau giám định) vụ số 2851/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ của Nguyễn Minh V, là vật cấm lưu hành và sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 nỏ thủy tinh V dùng để sử dụng ma túy, là vật cấm lưu hành và sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với đối tượng tên “T1” đã bán ma túy cho Nguyễn Minh V. V khai nhận không biết nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số 224/CT-VKS-HS ngày 16/04/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo Nguyễn Minh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh V từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù và tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong mẫu vật ma túy (sau giám định) vụ số 2851/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ và 01 nỏ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy.
Tại phiên toà, bị cáo V thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, không có ý kiến, tranh luận đối phần trình bày luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình, trả hồ sơ để điều tra bổ sung và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai quy định tại Điều 280, 281 và khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng gồm Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
[2.1] Những chứng cứ xác định hành vi bị truy tố có tội và tội danh:
Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Do thường xuyên sử dụng ma túy đá nên vào lúc 19 giờ 00 phút ngày 19/12/2023, V đến khu vực đường giao thông thuộc ấp G, xã G, Đ tìm gặp một người có tên thường gọi là T1 để hỏi mua hai bịch ma túy của T1 với giá 1.000.000 đồng để sử dụng, T1 đồng ý bán ma túy cho V. Sau khi mua được ma túy, V đi về nhà trọ “Hai Thiệu” của V đang thuê thuộc khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ và lấy một phần ma túy ra để sử dụng cho bản thân, phần ma túy còn lại V cất giấu trong hộp nhựa để sát ngay cánh cửa lối ra vào nhằm mục đích sử dụng cho lần sau. Đến khoảng 22 giờ ngày 20/12/2023, khi V đang ở nhà trọ thì Công an huyện Đ phối hợp cùng Công an thị trấn Định Quán bắt quả tang V đang có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, có khối lượng là 1,4573 gam Methamphetamine đang cất giấu trong hộp nhựa để ngay sát cánh cửa lối ra vào và 01 nỏ thủy tinh V dùng để sử dụng ma túy. Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể xét nghiêm nước tiểu bằng que thử, kêt luận V dương tính với chất ma túy trong cơ thể. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản bản bắt người phạm tội quả tang, bản tự khai/bản tường trình của bị cáo, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai người chứng kiến, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi do bị cáo Nguyễn Minh V thực hiện trong vụ án đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng số 224/CT-VKS-HS ngày 16/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.2] Bị cáo không tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[2.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo pháp luật nhà nước ta.
[2.4] Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức và biết được ma túy là chất gây nghiện, có tác hại rất lớn cho người sử dụng và xã hội, được nhà nước độc quyền quản lý, mọi hành vi mua bán, tàng trữ, tổ chức, vận chuyển trái phép...vv đều bị nhà nước nghiêm cấm và xử phạt nghiêm khắc. Nhưng vì mục đích vụ lợi, thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo đã bất chấp thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo là lỗi cố ý, nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương, là tác nhân gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội, tội phạm khác. Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần xử phạt phạt bị cáo một mức án thật nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra xã hội một thời gian để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật, đồng thời giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong mẫu vật ma túy (sau giám định) vụ số 2851/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ và 01 nỏ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy.
[4] Các vấn đề khác:
Đối với đối tượng tên “T1” đã bán ma túy cho Nguyễn Minh V, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng theo quy định.
[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng tại phiên tòa:
Đối với phần trình bày luận tội của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Đối với phần trình bày, lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 38, 46 và 47 Bộ luật hình sự;
Căn cứ Điều 106, 136, 260, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269, các Điều 280, 281, 298, 299, 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Áp dụng Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số:326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh V 02 (Hai) Năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong mẫu vật ma túy (sau giám định) vụ số 2851/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ và 01 nỏ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/04/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).
- Buộc bị cáo V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo V được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Đạt |
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
