|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN HÒA BÌNH TỈNH BẠC LIÊU |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:59/2024/HNGĐ-ST
Ngày 06/6/2024
V/v tranh chấp hôn nhân gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lữ Văn Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Tài Em
- Ông Võ Tân Phước
- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Nhị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Ông Trần Trung Kiên – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 48/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2024 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 giữa:
Nguyên đơn: chị Đào Thị Ngọc T, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp X, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu
Bị đơn: anh Trần Văn Đ, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu
(chị T có đơn xin vắng mặt, anh Đ vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo tại Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình nguyên đơn – chị Đào Thị Ngọc T trình bày:
Về hôn nhân: chị Đào Thị Ngọc T và anh Trần Văn Đ xây dựng hôn nhân vào năm 2022, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện H vào ngày 07/01/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Trần Văn Đ ngoại tình, không chăm lo vợ con nên đã ly thân từ đó cho đến nay. Nay xét thấy không thể hàn gắn được nữa nên chị cương quyết yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn Đ để ổn định cuộc sống.
Về con chung: có 01 con chung tên Trần Ngọc Uyên K, sinh ngày 30/12/2023, hiện cháu đang sống chung với chị Đào Thị Ngọc T; ly hôn thì chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con; không yêu cầu anh Trần Văn Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: chị Đào Thị Ngọc T xác định không có;
Bị đơn - anh Trần Văn Đ vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án này, không gửi văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị Đào Thị Ngọc T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình phát biểu ý kiến:
Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình:
Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đào Thị Ngọc T đối với anh Trần Văn Đ.
Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc Uyên K, sinh ngày 30/12/2023 cho chị Đào Thị Ngọc T tiếp tục nuôi dưỡng;
Anh Trần Văn Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình: chị Đào Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liêu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về pháp luật tố tụng: nguyên đơn - chị Đào Thị Ngọc T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn Đ nên đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Trần Văn Đ trú tại huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Trần Văn Đ là bị đơn vắng mặt lần thứ 02 tại phiên tòa không có lý do, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ; đồng thời anh Trần Văn Đ cũng không có yêu cầu phản tố; chị Đào Thị Ngọc T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Đào Thị Ngọc T và anh Trần Văn Đ xây dựng hôn nhân vào năm 2022 và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 07/01/2022 nên có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Đào Thị Ngọc T và anh Trần Văn Đ là hợp pháp.
[3] Yêu cầu xin ly hôn của chị Đào Thị Ngọc T, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẩn vợ chồng phát sinh từ năm 2023 đến nay nhưng các bên vẫn không có biện pháp gì hàn gắn tình cảm, thực tế đã ly thân với nhau từ đó cho đến nay. Hơn nữa, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Trần Văn Đ nhưng anh không đến tham dự và cũng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị Ngọc T, điều này cho thấy ý chí của anh Trần Văn Đ không muốn hàn gắn mối quan hệ với chị Đào Thị Ngọc T. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đào Thị Ngọc T đối với anh Trần Văn Đ.
[4] Về con chung: Việc quyết định giao con cho người cha hoặc người mẹ nuôi dưỡng sau khi ly hôn cần phải dựa trên quyền lợi về mọi mặt của người con, về điều kiện trông nom, chăm sóc. Từ lúc ly thân đến nay thì chị Đào Thị Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Ngọc Uyên K, sinh ngày 30/12/2023. Anh Trần Văn Đ vắng mặt và không gửi văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị Đào Thị Ngọc T. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Đào Thị Ngọc T về việc tiếp tục nuôi cháu Trần Ngọc Uyên K, sinh ngày 30/12/2023 là có căn cứ.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: chị Đào Thị Ngọc T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: chị Đào Thị Ngọc T xác định không có tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: chị Đào Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình.
[8] Xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình là hoàn toàn có căn cứ, cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 56, 81, 82, 83, 107, 110 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đào Thị Ngọc T đối với anh Trần Văn Đ.
- Về con chung: giao cháu Trần Ngọc Uyên K, sinh ngày 30/12/2023 cho chị Đào Thị Ngọc T tiếp tục nuôi dưỡng;
Anh Trần Văn Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: anh Trần Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị Đào Thị Ngọc T không yêu cầu.
- Án phí: chị Đào Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình. Chị Đào Thị Ngọc T đã tạm dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005264 ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình chuyển thu án phí.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LỮ VĂN TUẤN |
Bản án số 59/2024/HNGĐ-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH – TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 59/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH – TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hôn nhân gia đình
