TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày 05 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ánh .
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thế Bình;
Bà Phạm Thị Xuyến.
Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Trực.
Đại diện VKS nhân dân huyện N tham gia phiên toà: Bà Trần Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/HSST ngày 14 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Công Đ, sinh năm 1998; nơi thường trú: Thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đại L, sinh năm 1968; con bà Phạm Thị T1, sinh năm 1972; gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/6/2024 đến ngày 06/10/2024.
- Bị hại: Anh Vũ Quốc T2 (đã chết); địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị L1; sinh năm 1974 (mẹ đẻ của bị hại); địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Người chứng kiến: Bà Hoàng Thị N, ông Vũ Văn B và ông Nguyễn Văn Đ1.
Tại phiên tòa: Bị cáo, bà L1, bà N, ông B và ông Đ1 đều vắng mặt:
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 08/3/2024 bị cáo Nguyễn Công Đ có giấy phép lái xe hạng A1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNERX biển số 18K1-530.57 chở sau là anh Vũ Quốc T2 (là bạn thân của Đ) đến nhà anh Nguyễn Văn Đ1 (là anh rể của Đ) chơi và uống rượu. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô trên chở T2 về nhà. Đến khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày, Đ điều khiển xe mô tô đi đến khu vực đường T, thuộc địa phận thôn P, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, theo hướng xã N - xã N đã xô vào cạnh tường bao nhà ông Vũ Văn B, phía bên trái đường theo chiều đi của xe mô tô do Đ điều khiển. Hậu quả anh T2 bị chấn thương sọ não, được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện B1 đến ngày 26/3/2024, anh T2 tử vong. Đ bị chấn thương sọ não, chấn thương cột sống, gãy xương bả vai trái, gãy xương cánh tay trái, gãy xương đùi trái được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện T3, hiện đang trong quá trình điều trị ngoại trú tại nhà.
Sau khi sự việc xảy ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N vật chứng sau:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNERX biển số 18K1-530.57, 01 đăng ký xe biển số 18K1-530.57 mang tên Nguyễn Công Đ và 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Nguyễn Công Đ;
- 01 đoạn video tại camera giám sát của nhà bà Hoàng Thị N, ở thôn P, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Nội dung ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông trên;
- 01 đoạn video tại camera an ninh của Công an xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, ghi lại hình ảnh của xe mô tô biển số 18K1-530.57 đi qua khu vực ngã tư chợ Y, cách vị trí xảy ra tai nạn khoảng 150 mét.
Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, trưng cầu Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh N giám định thương tích, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông theo quy định của pháp luật.
Tại bản Kết luận giám định tử thi số: 634/KLGĐTT-KTHS ngày 19/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Anh Vũ Quốc T2 chết do chấn thương vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ điều trị không hồi phục.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 80/24/TgT, ngày 31/5/2024 của Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh N, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Nguyễn Công Đ là 85%.
Tại Kết luận giám định độc chất số: 041 và 042/KLGĐĐC-TTPY ngày 22/3/2024, của Trung tâm pháp y tỉnh N, kết luận: Mẫu máu của Nguyễn Công Đ có tìm thấy: Nồng độ cồn (Ethanol) trong máu: C = 124,3mg/100ml; không tìm thấy các chất ma túy trong máu.
Tại Kết luận giám định độc chất số: 043 và 044/KLGĐĐC-TTPY ngày 22/3/2024, của Trung tâm pháp y tỉnh N, kết luận: Mẫu máu của Vũ Quốc T2 có tìm thấy: Nồng độ cồn (Ethanol) trong máu: C = 146,7mg/100ml; không tìm thấy các chất ma túy trong máu.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 19/KLĐG, ngày 12/4/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện N kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 18K1-530.57, nhãn hiệu Honda, loại WINNERX, màu sơn trắng đen, xe không lắp gương chiếu hậu, tại thời điểm xảy ra sự việc có giá trị trên thị trường là 1.790.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định số: 644/KL-KTHS, ngày 15/4/2024, của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu cần giám định; không xác định được tốc độ của xe mô tô biển số 18K1 -530.57 ngay trước thời điểm xảy ra va chạm trong mẫu cần giám định; không đủ cơ sở để xác định điểm, vị trí va chạm giữa xe mô tô biển số 18K1 - 530.57 trên phương tiện và trên hiện trường trong mẫu cần giám định. Tốc độ của xe mô tô biển số 18K1-530.57 xuất hiện tại thời điểm 23h19'48” ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn giao thông trong mẫu cần giám định là 62,32 Km/h (±2,1Km/h).
Quá trình điều tra xác định: Điểm va chạm đầu tiên trong vụ tai nạn giao thông trên là toàn bộ phần hông bên trái xe mô tô biển số 18K1-530.57 (từ khu vực tay côn bên trái, cánh yếm bên trái đến ốp nhựa thân xe bên trái và khu vực để chân người ngồi sau bên trái) với cạnh tường phía trước bên trái của nhà ông Vũ Văn B (theo hướng nhìn từ ngoài vào). Vị trí va chạm là cạnh tường nhà phía trước bên trái của nhà ông Vũ Văn B nằm ở lề đường bên trái theo hướng xã N - xã N. Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn là do Nguyễn Công Đ điều khiển xe mô tô biển số 18K1-530.57 chở theo Vũ Quốc T2 tham gia giao thông khi trong máu có nồng độ cồn, đi không làm chủ tốc độ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đi đến đoạn đường cong có biển báo hiệu nguy hiểm; đi không đúng phần đường quy định dẫn đến xô vào cạnh tường bao nhà dân ở bên trái đường theo chiều đi của mình.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Công Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNERX biển số 18K1-530.57 là tài sản hợp pháp của Nguyễn Công Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho Đ xe mô tô biển số trên và đăng ký xe mang tên Nguyễn Công Đ.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bà Nguyễn Thị L1 (là mẹ đẻ của anh Vũ Quốc T2) số tiền 5.000.000 đồng. Bà L1 không có yêu cầu bồi thường dân sự nào khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Đ. Gia đình ông Vũ Văn B không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì về hư hỏng của bức tường nhà.
Cáo trạng số: 60/CT-VKS ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Công Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo có đơn xin giải quyết vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án, bị cáo có ý kiến giữ nguyên lời trình bày tại cơ quan điều tra lưu trong hồ sơ vụ án. Đồng thời bị cáo có đơn đề nghị được chính quyền địa phương xác nhận về hoàn cảnh khó khăn, bản thân là lao động chính trong gia đình lại bị tổn thương cơ thể 85% sức khỏe, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để có thời gian gần gũi gia đình chăm sóc điều trị vết thương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự. Điểm c khoản 2 Điều 290; khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công Đ từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 05 năm;
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, đại diện bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không đặt ra xem xét;
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Nguyễn Công Đ;
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Công Đ có đơn xin giải quyết vắng mặt, phù hợp với quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự. Người đại diện hợp pháp của bị hại đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập phiên tòa hợp lệ họ vắng mặt nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra lưu trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Xét về hành vi của bị cáo thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, người chứng kiến, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 634/KLGĐTT-KTHS ngày 19/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N; Kết luận giám định tổn thương cơ thể số: 80/24/TgT, ngày 31/5/2024 của Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh N và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 20 phút ngày 08/3/2024, tại đường T, thuộc địa phận thôn P, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, bị cáo Nguyễn Công Đ có giấy phép lái xe mô tô hạng A1, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNERX biển số 18K1-530.57 khi trong máu có nồng độ cồn 124,3mg/100ml, chở sau là anh Vũ Quốc T2 đi theo hướng xã N - xã N. Do không làm chủ tốc độ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đi đến đoạn đường cong có biển báo hiệu nguy hiểm, đi không đúng phần đường quy định đã xô vào cạnh tường bao nhà ông Vũ Văn B ở bên trái đường theo chiều đi của xe mô tô do Đ điều khiển. Hành vi của Nguyễn Công Đ đã vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 8; khoản 1, Điều 9; khoản 1, Điều 12, Luật Giao thông đường bộ và Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BCGTV ngày 29/8/2019 của Bộ G vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Hậu quả làm anh T2 chết do chấn thương vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ điều trị không hồi phục. Như vậy, hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an, an toàn giao thông tại nơi xảy ra vụ việc nói riêng và các địa phương khác nói chung. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng khi điều khiển xe mô tô, bị cáo không tuân thủ luật giao thông đường bộ, đã uống rượu bia khi gặp biển báo hiệu cảnh báo nguy hiểm, bị cáo không làm chủ được tốc độ, đi không đúng làn đường trực tiếp xô vào tường nhà ông B phía bên trái đường đã cướp đi tính mạng của anh T2, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra, đơn đề nghị và đơn xin giải quyết vắng mặt của bị cáo đều có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả tự nguyện bồi thường thiệt hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[6] Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân là lao động chính trong gia đình được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận, hơn nữa bản thân bị tổn thương cơ thể 85% sức khỏe. Do vậy, có đủ cơ sở xem xét xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự và không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự như quan điểm đề xuất của đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người đại diện hợp pháp bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong, không ai có yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Nguyễn Công Đ lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do lỗi vô ý nên cần trả lại bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự. Điểm c khoản 2 Điều 290; khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công Đ 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Công Đ cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
2. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đang được áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Công Đ.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Nguyễn Công Đ lưu giữ trong hồ sơ vụ án. (Bị cáo Đ liên hệ với Văn phòng Tòa án nhân dân huyện Nam Trực để nhận lại giấy tờ này).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ánh |
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 05/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Công Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
