TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2024/HNGĐ- ST
Ngày 30/7/2024
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Thanh Cường
2. Bà Đỗ Thị Hoài Mơ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 30/7/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 104/2024/TLST-HNGĐ ngày 02/4/2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Hứa Văn T, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Có mặt).
- Bị đơn: Chị Chu Thị N, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ, nguyên đơn anh Hứa Văn T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và cô N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T ngày 23/12/2009, sau khi kết hôn anh chị về chung sống với nhau ngay. Vợ chồng có thời gian dài chung sống hòa thuận, hạnh phúc và đã có 02 con chung.
Mâu thuẫn phát sinh từ tháng 03 năm 2024 đến nay, nguyên nhân do trong sinh hoạt hàng ngày anh chị không hòa hợp về tính tình. Cô N đi làm ăn xa nhà khoảng hơn 1 năm, từ đầu năm 2023 đến đầu năm 2024 cô N về nhà. Sau khi về thì cô N chung sống cùng anh được khoảng 10 ngày. Trong khoảng thời gian 10 ngày này anh chị không có mâu thuẫn gì, cô N có làm hồ sơ để đi làm công ty ở khu công nghiệp V. Cô N đi làm được khoảng 10 ngày ở công ty thì cô N muốn ở trọ tại khu công nghiệp. Sau đó cô N thu xếp quần áo trốn nhà đi, cô N có nhắn với anh là cô N đi và không quay về nhà nữa.
Anh đã nhắn tin và gọi điện khuyên bảo cô N rất nhiều lần, anh bảo cô N quay về chung sống và cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng cô N không đồng ý quay về chung sống cùng anh nữa. Gia đình hai bên cũng có gọi điện dàn xếp nhiều lần nhưng cô N cũng không quay về chung sống cùng anh nữa. Anh chị chính thức ly thân và chấm dứt quan hệ vợ chồng từ tháng 3 năm 2024 đến nay.
Nay anh xác định tình cảm vợ chồng đã hết, anh chị không thể tìm được tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với cô Chu Thị N.
- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Hứa Tuấn A, sinh ngày 02/10/2010 và Hứa Minh N1, sinh ngày 21/11/2016. Hiện nay cả hai con chung đang chung sống cùng anh, nếu ly hôn anh đề nghị Tòa án tiếp tục giao cho anh được nuôi cả hai con chung, nếu cô N có nguyện vọng được nuôi con chung thì anh sẽ không đồng ý. Vì hiện nay cô N đi làm ăn xa, không có ở nhà và không rõ đang ở đâu nên cô N sẽ không đảm bảo được đời sống của con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Nếu được nuôi hai con chung anh tự nguyện không yêu cầu cô N phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh. Hiện nay tôi làm nghề công nhân, mức thu nhập hàng tháng là 13.000.000 đồng. Với mức thu nhập này anh đảm bảo được đời sống của hai con chung.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, ruộng đất nông nghiệp: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết. Nếu không thỏa thuận được thì anh chị sẽ đề nghị Tòa án giải quyết sau.
Ngoài ra anh T không còn yêu cầu nào khác.
* Theo bản tự khai, bị đơn là chị Chu Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Năm 2009, chị và anh Hứa Văn T về chung sống với nhau, xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nhau và đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 23/12/2009 tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn anh chị sinh dống và làm ăn tại xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Sau khi kết hôn về chung sống với nhau cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc, có xảy ra mâu thuẫn nhưng vẫn giải quyết được. Tuy nhiên, từ đầu năm 2023 thì bắt đầu xảy ra rất nhiều mâu thuẫn, bất hòa, cãi nhau rất thường xuyên. Nguyên nhân chủ yếu là do giữa hai vợ chồng có quá nhiều sự khác biệt, bất đồng về tính cách, lối sống và quan điểm sống. Vợ chồng không thể tìm được tiếng nói chung trong gia đình, khoảng cách giữa vợ chồng ngày càng nhiều. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nhưng đều không được. Đến nay mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, không thể cứu vãn được, chị xác định không còn tình cảm với anh T, không thể tiếp tục chung sống với nhau, chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2024 tới nay.
Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc như mong muốn, tiếp tục kéo dài chỉ khiến cả hai mệt mỏi và gây ảnh hưởng tới con cái. Do đó, bằng đơn này chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Nam giải quyết ly hôn giữa chị và anh Hứa Văn T.
- Về con chung: Vợ chồng anh chị có hai con chung là Hứa Tuấn A, sinh ngày 02/10/2010 và Hứa Minh N1, sinh ngày 21/11/2016. Hiện nay hai con chung đang do anh T nuôi dưỡng, chăm sóc.
Khi ly hôn chị đề nghị quý Tòa xem xét giao cháu Hứa Tuấn A cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu Tuấn A trưởng thành; giao cháu Hứa Minh N1 cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu N1 trưởng thành. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài chung, nợ chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị N không còn ý kiến nào khác.
- Ngày 28 tháng 5 năm 2024, Tòa án tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Chu Thị N vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
- Ngày 06/7/2024, Tòa án tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Chu Thị N vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
- Tại phiên tòa, các đương sự trình bày như sau:
+ Anh Hứa Văn T trình bày: Anh giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Chu Thị N và đề nghị được nuôi cả hai con chung là Hứa Tuấn A, sinh ngày 02/10/2010 và Hứa Minh N1, sinh ngày 21/11/2016; anh T không đề nghị giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
+ Chị Chu Thị N trình bày: Chị đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh T và chị đề nghị được nuôi con chung là Hứa Tuấn A, sinh ngày 02/10/2010, chị đồng ý để anh T được nuôi con chung là Hứa Minh N1, sinh ngày 21/11/2016; chị N không đề nghị giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn và bị đơn đều có mặt nên đề nghị HĐXX xét xử vụ án theo thủ tục chung.
+ Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điều 51, 53, 55, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 144, khoản 4 Điều 147, Điều 150, điểm e khoản 1 Điều 192, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Hứa Văn T và chị Chu Thị N.
Về con chung: Giao cho anh Hứa Văn T trực tiếp nuôi con chung là Hứa Minh N1, sinh ngày 21/11/2016; giao cho chị Chu Thị N trực tiếp nuôi con chung là Hứa Tuấn A, sinh ngày 02/10/2010.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, còn đề nghị xử lý về phần án phí của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn là anh Hứa Văn T và bị đơn là chị Chu Thị N có mặt tại phiên tòa; căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Chu Thị N có địa chỉ tại xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
[3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Hứa Văn T có đơn xin ly hôn với chị Chu Thị N và đề nghị giải quyết về con chung nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 xác định quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".
[4] Về nội dung:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Hứa Văn T và chị Chu Thị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 23/12/2009. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị N là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau ngay. Quá trình chung sống anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh T do trong sinh hoạt hàng ngày anh chị không hòa hợp về tính tình; theo chị N là do giữa hai vợ chồng có quá nhiều sự khác biệt, bất đồng về tính cách, lối sống và quan điểm sống. Vợ chồng không thể tìm được tiếng nói chung trong gia đình, khoảng cách giữa vợ chồng ngày càng nhiều. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nhưng đều không được.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình, bà Mông Thị V là mẹ đẻ của anh T cho biết: Anh Thư và chị N không có mâu thuẫn gì, tháng 3 năm 2024 chị N tự ý bỏ đi và không có liên lạc gì với gia đình. Nay anh T xin ly hôn chị N thì bà đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo yêu cầu của anh T vì anh T và chị N khong có khả năng đoàn tụ.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình, bà Mã Thị Đ là mẹ đẻ của chị N cho biết: Không biết anh T và chị N có mâu thuẫn gì, nhưng tháng 3 năm 2024 chị N bỏ đi làm ăn ở tỉnh Lâm Đồng. Nay anh T xin ly hôn chị N thì bà đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Điều này chứng tỏ hôn nhân giữa anh T và chị N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa, anh T và chị N thỏa thuận với nhau về việc thuận tình ly hôn. Do vậy, cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Hứa Văn T và chị Chu Thị N là phù hợp với Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.
[4.2] Về con chung: Anh Thư và chị N có hai con chung là Hứa Tuấn A, sinh ngày 02/10/2010 và Hứa Minh N1, sinh ngày 21/11/2016. Hiện nay cả hai con chung đang ở cùng anh T. Nay ly hôn, anh T đề nghị được nuôi cả hai con chung, chị N đề nghị được nuôi con chung là Hứa Tuấn A, sinh ngày 02/10/2010 và đồng ý để anh T nuôi con chung là Hứa Minh N1, sinh ngày 21/11/2016. Nguyện vọng của hai con chung là muốn ở với chị Chu Thị N.
Xét thấy: Đề nghị của anh T và chị T là phù hợp pháp luật, phù hợp đạo đức xã hội, quyền nuôi con của anh chị là như nhau. Do vậy, cần giao con chung là Hứa Minh N1, sinh ngày 21/11/2016 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung là Hứa Tuấn A, sinh ngày 02/10/2010 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 2 Điều 81 luật hôn nhân và gia đình.
Sau khi ly hôn anh T và chị N được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh chị thực hiện quyền này là phù hợp với các điều 58, 82 luật hôn nhân gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh T và chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4.3] Về tài sản chung và ruộng đất nông nghiệp: Anh Thư và chị N không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Anh Hứa Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 51, 53, 55, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 28, 35, 39, 144, khoản 4 Điều 147, Điều 150, điểm e khoản 1 Điều 192, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Hứa Văn T và chị Chu Thị N.
- Về con chung: Giao cho anh Hứa Văn T trực tiếp nuôi con chung là Hứa Minh N1, sinh ngày 21/11/2016; giao cho chị Chu Thị N trực tiếp nuôi con chung là Hứa Tuấn A, sinh ngày 02/10/2010.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Thư và chị N có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh chị thực hiện quyền này. Tuy nhiên, người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người trực tiếp nuôi dưỡng.
Vì lợi ích của con chung, Tòa án có thể thụ lý giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vụ án yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nếu sau này các đương sự có đơn yêu cầu và theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Anh Hứa Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng anh đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0008162 ngày 02/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam. Xác nhận anh Hứa Văn T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Ngọc Oanh |
Bản án số 59/2024/HNGĐ- ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 59/2024/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Hứa Văn T xin ly hôn chị Chu Thị N