|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2024/HNGĐ- ST
Ngày: 05-7-2024
V/v: Ly hôn, nuôi con chung.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lò Mai Xiêng.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Lý Thị Vinh
- Ông Phạm Ngọc Thiệp
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tiến Dũng- Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Lâu A Thống - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 105/2024/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 10 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 52/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 63/2024/QÐST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Quàng Thị N, sinh năm 1997.
Nơi ĐKHKTT: Bản Huổi Pản, xã MK, huyện TC, tỉnh Sơn La.
Nơi tạm trú và chỗ ở hiện nay: Bản Phiêng Lời, xã Hua Trai, huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
( Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lò Văm X, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Bản Huổi Pản, xã MK, huyện TC, tỉnh Sơn La.
( Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Quàng Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Chị Quàng Thị N và anh Lò Văm X kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 13/11/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Hua Trai, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Quàng Thị N và anh Lò Văm X đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Chị Quàng Thị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị ly hôn với anh Lò Văm X.
Về con chung: Chị Quàng Thị N và anh Lò Văm X có 01 (một) con chung là cháu Lò Trọng Nhân, sinh ngày 02/4/2018.
Chị Quàng Thị N có nơi cư trú ổn định. Chị Quàng Thị N là giáo viên trường mầm non Chiềng Hoa, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, có thu nhập ổn định, mức lương hiện hưởng của chị Nga hiện tại là 9.575.000 đồng/ tháng. Chị Nga có đủ điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc con.
Chị Quàng Thị N đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lò Trọng Nhân.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Quàng Thị N không yêu cầu anh Lò Văm X cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị Quàng Thị N cam đoan không có nợ chung.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 06/5/2024, ngoài những tài liệu, chứng cứ do chị Nga đã giao nộp, chị Nga không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác.
Tại biên bản xác minh ngày 24/4/2024 tại bản Huổi Pản, xã Mường Khiêng, huyện TC, tỉnh Sơn La, chị Quàng Thị N và anh Lò Văm X có đăng ký hộ khẩu thường trú tại bản Huổi Pản, xã Mường Khiêng, huyện TC, tỉnh Sơn La. Quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, tính tình không hòa hợp. Chị Quàng Thị N là giáo viên trường mầm non Chiềng Hoa, huyện Mường La, tỉnh Sơn La và đang thuê nhà ở tại bản Phiêng Lời, xã Hua Trai, huyện Mường La. Chị Nga, anh Xâm đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Chị Quàng Thị N và anh Lò Văm X có 01 (một) con chung là cháu Lò Trọng Nhân, sinh ngày 02/4/2018. Hiện tại cháu Lò Trọng Nhân đang ở với ông Lò Văn Lánh và bà Quàng Thị Ngọc (là bố, mẹ của anh Lò Văm X) tại bản Huổi Pản, xã MK, huyện TC. Anh Xâm làm trồng trọt, chăn nuôi, hiện tại anh Xâm đang đi làm thuê ở tỉnh Bắc
2
Giang, thỉnh thoảng 01 tháng hoặc 02 tháng về thăm con một lần. Chị Quàng Thị N thường xuyên đón cháu Nhân về huyện Mường La, gia đình có ý kiến: Không nhất trí giao cháu Nhân cho chị Quàng Thị N nuôi dưỡng do mỗi lần đón cháu Nhân về nhà, chị Nga gây khó khăn, không cho gia đình đón cháu Nhân về Mường Khiêng. Về tài sản chung: Không có. Nợ chung: Không nắm được.
Chị Quàng Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Chị Nga giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trong bản tự khai.
Bị đơn anh Lò Văm X đã được triệu tập hợp lệ, giao thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, các Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án nhân dân huyện TC. Anh Lò Văm X không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, không viết bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải, không tham gia phiên tòa xét xử.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TC phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đầy đủ các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị N được ly hôn anh Lò Văm X.
Về con chung: Giao cháu Lò Trọng Nhân, sinh ngày 02/4/2018 cho chị Quàng Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lò Văm X không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có.
3
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị Quàng Thị N, anh Lò Văm X không có nợ chung.
Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Quàng Thị N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Quàng Thị N yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn anh Lò Văm X có địa chỉ tại bản Huổi Pản, xã Mường Khiêng, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Quàng Thị N, bị đơn anh Lò Văm X: Nguyên đơn chị Quàng Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn. Bị đơn anh Lò Văm X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ ba vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Quàng Thị N và anh Lò Văm X kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 13/11/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Hua Trai, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện, sau khi kết hôn được một thời gian có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Quàng Thị N và anh Lò Văm X đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Chị Quàng Thị N cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn anh Lò Văm X.
Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai, biên bản xác minh tại chính quyền địa phương.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nga và anh Xâm trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xử cho chị Quàng Thị N được ly hôn anh Lò Văm X. Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Chị Quàng Thị N và anh Lò Văm X có 01 (một) con chung là cháu Lò Trọng Nhân, sinh ngày 02/4/2018.
Chị Quàng Thị N đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lò Trọng Nhân, sinh ngày 02/4/2018. Chị Quàng Thị N không yêu cầu anh Lò Văm X cấp dưỡng nuôi con chung.
4
Chị Nga, anh Xâm đều có nơi cư trú rõ ràng, có thu nhập. Tuy nhiên anh Xâm đi làm thuê, thường xuyên đi vắng. Cháu Lò Trọng Nhân còn nhỏ. Chị Quàng Thị N là giáo viên trường mầm non Chiềng Hoa, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, có thu nhập ổn định, mức lương hiện hưởng của chị Nga hiện tại là 9.575.000 đồng/ tháng.
Từ các căn cứ nêu trên xét thấy: Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, sự phát triển về thể chất, cần giao cháu Lò Trọng Nhân, sinh ngày 02/4/2018 cho chị Quàng Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lò Văm X không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Quàng Thị N không yêu cầu cấp dưỡng).
Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản chung: Không có.
[5] Về tài sản riêng: Không có.
[6] Về nợ chung: Chị Quàng Thị N, anh Lò Văm X không có nợ chung.
[7] Về án phí: Chị Quàng Thị N có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm, xét thấy chị Quàng Thị N là người dân tộc thiểu số, sống ở bản có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Quàng Thị N.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị N được ly hôn anh Lò Văm X.
- Về con chung: Giao cháu Lò Trọng Nhân, sinh ngày 02/4/2018 cho chị Quàng Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lò Văm X không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Quàng Thị N không yêu cầu cấp dưỡng).
5
- Về tài sản chung: Không có.
- Về tài sản riêng: Không có.
- Về nợ chung: Chị Quàng Thị N và anh Lò Văm X không có nợ chung.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Quàng Thị N. Hoàn trả lại chị Quàng Thị N số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0001760, ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TC, tỉnh Sơn La.
- Về quyền kháng cáo: Chị Quàng Thị N, anh Lò Văm X được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Mai Xiêng |
6
Bản án số 59/2024/HNGĐ- ST ngày 05/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA về ly hôn, nuôi con chung.
- Số bản án: 59/2024/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử ly hôn
