Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày 04-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Khắc Hiếu và ông Nguyễn Tấn Phát.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Cao Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hữu – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Ngọc A

(Tên gọi khác: Không), sinh ngày 22/8/2002 tại tỉnh Phú Yên; Địa chỉ: Khu phố P, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Thợ sơn gỗ; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Quốc B (chết) và bà Bùi Thị T, sinh năm 1983; Vợ: Nguyễn Thùy Khánh P, sinh năm 2003; Có 01 con, sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bắt tạm giam từ ngày 26/12/2023, có mặt tại phiên toà.

Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Quốc A1, sinh năm 2004; Địa chỉ: Khu phố C, Phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  2. Bà Lê Thị Tuyết M, sinh năm 1948; Địa chỉ: A P, Phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
  3. Ông Phí Tấn Í, sinh năm 1954; Địa chỉ: Khu phố N, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  4. Ông Phạm H, sinh năm 1964; Địa chỉ: Khu phố N, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt khi tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Đình T1, sinh năm 1988; Địa chỉ: thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định. Vắng mặt tại phiên toà.
  2. Anh Nguyễn Đăng N, sinh năm 1994; Địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  3. Chị Trần Thị T2, sinh năm 1998; Địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  4. Chị Phạm Thị L, sinh năm 1981; Địa chỉ: thôn N, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  5. Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1972; Địa chỉ: F L, Phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  6. Ông Võ Văn V, sinh năm 1966; Địa chỉ: F L, Phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
  7. Chị Trần Thị Yên T3, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khu phố P, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  8. Chị Võ Thị Ngọc L1, sinh năm 1983; Địa chỉ: thôn N, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  9. Anh Lê Long T4, sinh năm 1996; Địa chỉ: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  10. Bà Phạm Thị Thu T5, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khu phố N, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  11. Anh Bùi Văn H1, sinh năm 1991; Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  12. Anh Trương Quốc H2, sinh năm 1995; Địa chỉ: A P, Phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  13. Chị Nguyễn Thùy Khánh P, sinh năm 2003; Địa chỉ: Khu phố L, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.

Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Duy T6, sinh năm 1998; Địa chỉ: B L, Phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  2. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1961; Địa chỉ: A N, Phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt khi tuyên án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Từ ngày 13/12/2023 đến ngày 26/12/2023 tại thành phố T, bị cáo Bùi Ngọc A đã 02 lần có hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản và 02 lần có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể:

Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 13/12/2023, bị cáo đi đến bãi giữ xe của ông Phí Tấn Í tại chợ P1 thuộc Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên, bị cáo phát hiện xe môtô hiệu Honda Wave, biển số 78C1-703.57 của chị Trần Thị Yên T3 để trong bãi giữ xe, trên xe có gắn chìa khoá, bị cáo đi vào dắt chiếc xe ra và nói dối với ông Í là xe của mẹ bị cáo. Đồng thời, trả cho ông Í 3.000 đồng tiền công giữ xe, ông Ích t thật nên đồng ý để cho bị cáo lấy xe đi. Bị cáo đem xe về phòng trọ ở Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên cất giấu, đến ngày 14/12/2023 đem bán xe môtô, biển số 78C1-703.57 cho ông Lê Long T4, trú tại phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên lấy số tiền 4.100.000 đồng.

Tương tự thủ đoạn như trên, khoảng 08 giờ 30 phút ngày 23/12/2023, bị cáo đi đến điểm giữ xe của bà Lê Thị Tuyết M, sinh năm 1948, tại chợ T7 thuộc Phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên phát hiện xe môtô hiệu Honda Wave, biển số 78C1-597.11 của ông Võ Văn V đang để trong bãi giữ xe của bà M, trên xe có gắn chìa khoá, bị cáo đi vào dắt xe ra và nói dối với bà M là xe của bị cáo và đưa cho bà M tiền công giữ xe 3.000 đồng, bà M tưởng thật nên đồng ý để cho bị cáo lấy xe đi. Bị cáo đem xe về phòng trọ cất giấu, đến ngày 24/12/2023 đem xe môtô, biển số 78C1-597.11 bán cho một nam thanh niên không rõ lai lịch lấy số tiền 3.200.000 đồng.

Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 19/12/2023, bị cáo đi đến bãi giữ xe của ông Phạm H tại chợ N1 6 thuộc Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên lợi dụng lúc ông H sở hở trong việc trông coi, bị cáo đi vào bãi giữ xe lén lấy trộm xe môtô hiệu Yamaha Sirius, biển số 78E1-385.19 của bà Phạm Thị Thu T5 đang gửi tại bãi giữ xe của ông H. Bị cáo dắt xe đi độ chìa khóa rồi đem xe về phòng trọ ở Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên cất giấu, đến ngày 20/12/2023 đem xe môtô, biển số 78E1-385.19 bán cho anh Trương Quốc H2, trú tại A P, Phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên lấy số tiền 3.000.000 đồng.

Tương tự thủ đoạn như trên, khoảng 08 giờ ngày 26/12/2023, bị cáo điều khiển xe môtô biển số 78C1-522.08 đến gửi tại điểm giữ xe ở đường L thuộc Phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên rồi đi bộ xung quanh để tìm tài sản trộm cắp. Bị cáo phát hiện xe môtô nhãn hiệu Honda Winner, biển số 77D1-467.24 của anh Nguyễn Quốc A1 dựng trên vỉa hè đường L, xe không khóa cổ và không có người trông coi, bị cáo đến lén dắt xe môtô, biển số 77D1-467.24 đi thì bị ông Nguyễn Duy T6 phát hiện truy hô bắt quả tang thu giữ xe.

Kết luận định giá tài sản số 99 và 100 ngày 28/12/2023; số 101 và 102 ngày 29/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T kết luận: Xe môtô biển số 77D1-467.24 trị giá 17.750.000 đồng; Xe môtô biển số 78C1-597.11 trị giá 12.000.000 đồng; Xe môtô biển số 78E1-385.19 trị giá 11.500.000 đồng; Xe môtô biển số 78C1-703.57 trị giá 11.750.000 đồng.

Bị cáo thành khẩn khai báo, tự thú, phạm tội 02 lần trở lên, phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên.

Vật chứng, đồ vật, tài sản: Đang tạm giữ, chờ xử lý 01 (Một) điện thoại di động Iphone 7 Plus màu vàng đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Lê Thị Tuyết M yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 12.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKSTH ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố bị cáo Bùi Ngọc A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Bùi Ngọc A và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điểm g, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt cho cả 02 tội, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 26/12/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xét.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Bùi Ngọc A nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 7.100.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động Iphone 7 Plus màu vàng đồng.

Bị cáo Bùi Ngọc A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại bà Lê Thị Tuyết M trình bày: Bà đã nhận đủ số tiền bồi thường là 12.000.000 đồng nên không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại ông Phạm Hành trình b: Đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại ông Phí Tấn Í có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 03/6/2024 trình bày: Đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng về thời gian, địa điểm, nguyên nhân, động cơ và mục đích phạm tội, phù hợp với vật chứng thu giữ được. Đủ cơ sở để kết luận: Ngày 13/12/2023 và ngày 23/12/2023 tại Phường B và Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên, bị cáo Bùi Ngọc A đã có hành vi gian dối chiếm đoạt 02 xe môtô của ông Phí Tấn Í và bà Lê Thị Tuyết M với tổng trị giá tài sản là 23.750.000 đồng nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, ngày 19/12/2023 và ngày 26/12/2023 tại Phường D và Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên, bị cáo Bùi Ngọc A đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 xe môtô của ông Phạm H và anh Nguyễn Quốc A1 thì bị bắt quả tang với tổng trị giá tài sản là 29.250.000 đồng nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, bản cáo trạng số 52/CT-VKSTH ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa truy tố và luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.1] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có khả năng lao động nhưng lại lười biếng, không chí thú làm ăn, muốn thu lợi bất chính từ việc chiếm đoạt tài sản của người khác nên chỉ trong một thời gian ngắn, bị cáo đã liên tiếp thực hiện 02 hành vi gian dối chiếm đoạt với tổng trị giá tài sản 23.750.000 đồng và 02 hành vi lén lút chiếm đoạt với tổng trị giá tài sản 29.250.000 đồng là thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[2.2] Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khai báo đã thực hiện 02 hành vi gian dối và 01 hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác trước khi bị phát hiện; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại bà Lê Thị Tuyết M số tiền 12.000.000 đồng và được các bị hại bà Lê Thị Tuyết M, ông Phạm H xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên và phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên nên áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm g, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[2.3] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Thiên L2 và anh Trương Quốc H2 có hành vi mua xe môtô do bị cáo bán, nhưng khi mua anh L2 và anh H2 không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên hành vi không cấu thành tội phạm. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hoà, không xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh L2 và anh H2 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại anh Nguyễn Quốc A1, ông Phí Tấn Í, ông Phạm H đã nhận lại tài sản và bị hại bà Lê Thị Tuyết M đã nhận đủ tiền bồi thường là 12.000.000 đồng, các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Bùi Ngọc A nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 7.100.000 đồng (Bảy triệu một trăm nghìn đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

[4] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động Iphone 7 Plus màu vàng đồng của bị cáo Bùi Ngọc A vì bị cáo sử dụng điện thoại di động để liên lạc, tìm người mua xe chiếm đoạt được (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 03 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa).

Đối với xe môtô bị cáo Bùi Ngọc A đã sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản bị thu giữ, xe gắn biển số 78C1-522.08, số máy G3D4E970347, số khung RLCUG1010KY200904, nhưng quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục tạm giữ để điều tra xử lý theo thẩm quyền.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điểm g, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Ngọc A 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Ngọc A 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tổng hợp hình phạt: Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Bùi Ngọc A phải chấp hành 03 (Ba) năm tù cho cả 02 tội, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 26/12/2023.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Bùi Ngọc A nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 7.100.000 đồng (Bảy triệu một trăm nghìn đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động Iphone 7 Plus màu vàng đồng (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 03 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Bị cáo Bùi Ngọc A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND TP. Tuy Hòa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Tuy Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Tuy Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Thị Thanh Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Ngọc Anh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger