TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 59/2024/DS-ST. Ngày: 03-6-2024. v/v: Tranh chấp hụi. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duy Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Minh Lý
- Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Cao Minh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 234/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2023 về việc tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Quốc P, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Số A đường X, tổ I, Khu phố D, phường M, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Kim H, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Số D, đường N, Tổ G, Khu phố G, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm 1964; địa chỉ: Số A, Quốc lộ A, Tổ F, Khu phố D, phường T, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương. Vắng.
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ C, ấp K, xã A, T (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương. Có đơn đề nghị giải quyết vắng
- Ông La Minh T1; sinh năm 1982; địa chỉ: Số A đường X, tổ I, Khu phố D, phường M, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương. Có đơn đề nghị giải quyết vắng.
- Bà Lê Thị Mỹ X, sinh năm 1985; địa chỉ: Số A đường X, tổ I, Khu phố D, phường M, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương. Có đơn đề nghị giải quyết vắng.
- Bà Nguyễn Thị Bích T2, sinh năm 1985; địa chỉ: Số D, Tổ B, Khu phố D, phường M, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương. Có đơn đề nghị giải quyết vắng.
Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Minh P1, sinh năm 1968; Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: Số B đường B, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương là người đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền ngày 02/3/2023. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02/3/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Quốc P và người đại diện hợp pháp ông Lê Minh P1 trình bày:
Do quen biết trong quá trình buôn bán tại chợ nên khi bà Nguyễn Kim H tổ chức nhiều dây hụi thì ông Lê Quốc P có tham gia. Bà H làm chủ hụi, tự lập và giữ sổ hụi, thông báo số thành viên tham gia, tự chịu trách nhiệm quản lý các dây hụi, thu tiền đóng hụi từ các thành viên và giao tiền cho thành viên hốt hụi tại các kỳ khui hụi. Đây là hụi có lãi và hụi hưởng hoa hồng. Việc tham gia hụi của các hụi viên trên cơ sở bà H trực tiếp thỏa thuận riêng từng thành viên tham gia, bà H thông báo số người tham gia, loại hụi, kỳ khui hụi, phần hụi, nếu thành viên trong dây hụi cần vốn thì bỏ thăm cao để hốt hụi trước theo thứ tự ưu tiên bốc thăm từ trước đến sau (Hụi có lãi tùy thuộc vào số tiền thành viên bỏ thăm cao để hốt hụi, thành viên còn lại phải đóng cho chủ hụi tại các kỳ mở hụi), người được hốt hụi phải trả tiền đầu thảo cho bà H (50% hoa hồng trên số tiền phần hụi). Ông P đã đồng ý tham gia tất cả 18 dây hụi, cụ thể:
- Dây hụi 01: Phần hụi 10.000.000/tháng (hụi tháng); có 17 người tham gia (trong đó có ông P); Bắt đầu khui ngày 25/9/2020. Ông P đã đóng hụi cho bà H 05 lần (lần khui thứ 05 vào ngày 25/01/2021) rồi ngưng cho đến nay, tổng số tiền ông P đã đóng hụi cho bà H là 27.900.000 đồng.
- Dây hụi 2: Phần hụi 10.000.000/tháng (hụi tháng); có 17 người tham gia (trong đó có ông P); Bắt đầu khui ngày 25/9/2020. Ông P đã đóng hụi cho bà H 05 lần (lần khui thứ 05 vào ngày 25/01/2021) rồi ngưng cho đến nay. Số tiền đã đóng là 27.600.000 đồng.
- Dây hụi 3: Phần hụi 20.000.000/tháng (hụi tháng); có 14 người tham gia (trong đó có ông P); Bắt đầu khui ngày 25/9/2020. Ông P là người hốt hụi cận chót (người hốt thứ 13), số tiền lẽ ra được nhận là 250.000.000đồng [280.000.000đồng - 20.000.000đồng (hụi chết) - 10.000.000đồng (50% hoa hồng cho bà H)] nhưng bà H không giao tiền dù đã gom đủ tiền từ các hụi viên.
- Dây hụi 4: Phần hụi 5.000.000/tháng (hụi tháng); có 15 người tham gia (trong đó có ông P); Bắt đầu khui ngày 05/11/2020. Ông P đã đóng hụi cho bà H 03 lần (lần khui thứ 3 vào ngày 05/11/2021) rồi ngưng cho đến nay. Số tiền đã đóng là 9.850.000đồng.
- Dây hụi 5: Phần hụi 5.000.000/tháng (hụi tháng); có 15 người tham gia (trong đó có ông P); Bắt đầu khui ngày 05/11/2020. Ông P đã đóng hụi cho bà H 03 lần (lần khui thứ 3 vào ngày 05/11/2021) rồi ngưng cho đến nay. Số tiền đã đóng là 9.600.000 đồng.
- Dây hụi 6: Phần hụi 5.000.000/tháng (hụi tháng); có 15 người tham gia (trong đó có ông P); Bắt đầu khui ngày 05/11/2020. Ông P đã đóng hụi cho bà H 03 lần (lần khui thứ 3 vào ngày 05/11/2021) rồi ngưng cho đến nay. Số tiền đã đóng là 10.600.000 đồng.
- Dây hụi 7: Phần hụi 10.000.000/tháng (hụi tháng); có 12 người tham gia (trong đó có ông P); Bắt đầu khui ngày 18/02/2020. Ông P đã đóng hụi cho bà H 10 lần (lần khui thứ 10 vào ngày 18/11/2020) rồi ngưng cho đến nay. Số tiền đã đóng là 64.750.000 đồng.
- Dây hụi 8: Phần hụi 5.000.000/tháng (hụi tháng); có 12 người tham gia (trong đó có ông P); Bắt đầu khui ngày 01/3/2020. Ông P đã đóng hụi cho bà H 11 lần. Ông P đã hốt hụi nên còn phải đóng 01 lần 5.000.000 đồng cho bà H.
- Dây hụi 9: Phần hụi 3.000.000/tháng (hụi tháng); có 12 người tham gia (trong đó có ông P); Bắt đầu khui ngày 01/3/2020. Ông P đã đóng hụi cho bà H 11 lần. Ông P đã hốt hụi nên còn phải đóng 01 lần 3.000.000 đồng cho bà H.
- Dây hụi 10: Phần hụi 10.000.000/tháng (hụi tháng); có 16 người tham gia (trong đó có ông P); Bắt đầu khui ngày 26/6/2020. Ông P đã đóng hụi cho bà H 07 lần (lần khui thứ 7 vào ngày 26/12/2020) rồi ngưng cho đến nay. Số tiền đã đóng là 23.490.000 đồng.
- Dây hụi 11: Phần hụi 2.000.000/tuần (hụi tuần); có 15 người tham gia (trong đó có ông P); Bắt đầu khui ngày 29/10/2020. Ông P đã đóng hụi cho bà H 12 lần (lần khui thứ 12 vào ngày 29/01/2021) rồi ngưng cho đến nay. Số tiền đã đóng là 20.490.000 đồng.
- Dây hụi 12: Phần hụi 2.000.000/tuần (hụi tuần); có 15 người tham gia (trong đó có ông P); Bắt đầu khui ngày 29/10/2020. Ông P đã đóng hụi cho bà H 12 lần (lần khui thứ 12 vào ngày 29/01/2021) rồi ngưng cho đến nay. Số tiền đã đóng là 20.680.000 đồng.
- Dây hụi 13: Phần hụi 2.000.000/tuần (hụi tuần); có 33 người tham gia (trong đó có ông P); Bắt đầu khui ngày 21/6/2020. Ông P đã đóng hụi cho bà H 30 lần (lần khui thứ 30 vào ngày 29/01/2021) rồi ngưng cho đến nay. Số tiền đã đóng là 49.900.000 đồng.
- Dây hụi 14: Phần hụi 5.000.000/tháng (hụi tháng); có 12 người tham gia (trong đó có ông P); Bắt đầu khui ngày 18/02/2020. Ông P là người hốt hụi cận chót (người hốt thứ 11), số tiền lẽ ra được nhận là 52.500.000đồng [60.000.000đồng - 5.000.000đồng(hụi chết) - 2.500.000đồng (50% hoa hồng cho bà H)] nhưng bà H không giao tiền dù đã gom đủ tiền từ các hụi viên.
- Dây hụi 15: Phần hụi 5.000.000/tháng (hụi tháng); có 12 người tham gia (trong đó có ông P); Bắt đầu khui ngày 18/02/2020. Ông P là người hốt hụi cận chót (người hốt thứ 11), số tiền lẽ ra được nhận là 52.500.000đồng [(60.000.000đồng - 5.000.000đồng(hụi chết) - 2.500.000đồng (50% hoa hồng cho bà H)] nhưng bà H không giao tiền dù đã gom đủ tiền từ các hụi viên.
- Dây hụi 16: Phần hụi 2.000.000/tuần (hụi tuần); có 19 người tham gia (trong đó có ông P); Bắt đầu khui ngày 25/9/2020. Ông P đã đóng hụi cho bà H 16 lần (lần khui thứ 16 vào ngày 22/01/2021) rồi ngưng cho đến nay. Số tiền đã đóng là 27.420.000đồng.
- Dây hụi 17: Phần hụi 10.000.000/tháng (hụi tháng); có 15 người tham gia (trong đó có ông P); Bắt đầu khui ngày 10/7/2020. Ông P đã đóng hụi cho bà H 07 lần (lần khui thứ 7 vào ngày 10/01/2021) rồi ngưng cho đến nay. Số tiền đã đóng là 43.100.000 đồng.
- Dây hụi 18: Phần hụi 10.000.000/tháng (hụi tháng); có 15 người tham gia (trong đó có ông P); Bắt đầu khui ngày 10/7/2020. Ông P đã đóng hụi cho bà H 07 lần (lần khui thứ 7 vào ngày 10/01/2021) rồi ngưng cho đến nay. Số tiền đã đóng là 41.200.000 đồng.
Nhận thấy, bà H là người đứng ra tổ chức các dây hụi có hưởng hoa hồng, là người trực tiếp mời ông P tham gia chơi hụi, trực tiếp nhận tiền đóng hụi từ ông P nhưng không giữ đúng lời cam kết, tự ý ngưng khui hụi. Ông P đã nhiều lần yêu cầu bà H phải trả lại số tiền hụi nhưng cho đến nay bà H vẫn cố tình không trả.
Vì vậy, ông P khởi kiện yêu cầu bà H phải trả lại số tiền hụi mà ông đã đóng và tiền lãi cho đến thời điểm xét xử. Cụ thể tạm tính như sau:
- Dây hụi (1): Phần hụi 10.000.000/tháng. Số tiền đã đóng là 27.900.000 đồng; Tiền lãi tạm tính từ ngày 25/01/2021 đến ngày 25/01/2023: 27.900.000 đồng x 1,66%/tháng x 24 tháng = 11.160.000 đồng. Tổng: 39.060.000đồng.
- Dây hụi (2): Phần hụi 10.000.000/tháng (hụi tháng). Số tiền đã đóng là 27.600.000 đồng; Tiền lãi tạm tính từ ngày 25/01/2021 đến ngày 25/01/2023: 27.600.000 đồng x 1,66%/tháng x 24 tháng = 11.040.000 đồng. Tổng: 38.640.000đồng.
- Dây hụi (3): Phần hụi 20.000.000/tháng (hụi tháng). Ông P là người hốt hụi cận chót (người hốt thứ 13), số tiền lẽ ra được nhận là 250.000.000 đồng. Từ 280.000.000 đồng trừ đi 20.000.000 đồng (hụi chết) và trừ 10.000.000 đồng (50% hoa hồng cho bà H); Tiền lãi tạm tính từ ngày 05/01/2021 đến ngày 05/01/2023: 250.000.000đồng x 1,66%/tháng x 24 tháng = 100.000.000 đồng. Tổng: 350.000.000đồng.
- Dây hụi (4): Phần hụi 5.000.000/tháng (hụi tháng). Số tiền đã đóng là 9.850.000 đồng; Tiền lãi tạm tính từ ngày 05/01/2021 đến ngày 05/01/2023: 9.850.000 đồng x 1,66%/tháng x 24 tháng = 3.940.000 đồng. Tổng: 13.790.000đồng.
- Dây hụi (5): Phần hụi 5.000.000/tháng (hụi tháng). Số tiền đã đóng là 9.600.000 đồng; Tiền lãi tạm tính từ ngày 05/01/2021 đến ngày 05/01/2023: 9.600.000đồng x 1,66%/tháng x 24tháng = 3.840.000đồng. Tổng: 13.440.000đồng.
- Dây hụi (6): Phần hụi 5.000.000/tháng (hụi tháng). Số tiền đã đóng là 10.600.000 đồng; Tiền lãi tạm tính từ ngày 05/01/2021 đến ngày 05/01/2023: 10.600.000đồng x 1,66%/tháng x 24tháng = 4.240.000đồng. Tổng: 14.840.000đồng.
- Dây hụi (7): Phần hụi 10.000.000/tháng (hụi tháng). Số tiền đã đóng là 64.750.000 đồng; Tiền lãi tạm tính từ ngày 18/11/2021 đến ngày 18/01/2023: 64.750.000đồng x 1,66%/tháng x 26tháng = 11.160.000đồng. Tổng: 92.696.000đồng.
- Dây hụi (8): Phần hụi 5.000.000/tháng (hụi tháng). Bà H cho biết có 12 người tham gia (trong đó có ông P). Bắt đầu khui ngày 01/3/2020. Ông P đã đóng hụi cho bà H 11 lần. Ông P đã hốt hụi nên còn phải đóng 01 lần 5.000.000 đồng cho bà H.
- Dây hụi (9): Phần hụi 3.000.000/tháng (hụi tháng); Bà H cho biết có 12 người tham gia (trong đó có ông P); Bắt đầu khui ngày 01/3/2020. Ông P đã đóng hụi cho bà H 11 lần. Ông P đã hốt hụi nên còn phải đóng 01 lần 3.000.000 đồng cho bà H.
- Dây hụi (10): Phần hụi 10.000.000/tháng (hụi tháng). Số tiền đã đóng là 23.490.000 đồng; Tiền lãi tạm tính từ ngày 26/12/2021 đến ngày 26/01/2023: 23.490.000đồng x 1,66%/tháng x 25 tháng = 9.748.500 đồng. Tổng: 33.238.000đồng.
- Dây hụi (11): Phần hụi 2.000.000/tuần (hụi tuần); Số tiền đã đóng là 20.490.000 đồng; Tiền lãi tạm tính từ ngày 29/01/2021 đến ngày 29/01/2023: 20.490.000đồng x 1,66%/tháng x 24 tháng = 8.196.000 đồng. Tổng: 28.686.000đồng.
- Dây hụi (12): Phần hụi 2.000.000/tuần (hụi tuần); Số tiền đã đóng là 20.680.000 đồng; Tiền lãi tạm tính từ ngày 29/01/2021 đến ngày 29/01/2023: 20.680.000đồng x 1,66%/tháng x 24 tháng = 8.272.000 đồng. Tổng: 28.952.000đồng.
- Dây hụi (13): Phần hụi 2.000.000/tuần (hụi tuần); Số tiền đã đóng là 49.900.000 đồng; Tiền lãi tạm tính từ ngày 28/01/2021 đến ngày 28/01/2023: 49.900.000đồng x 1,66%/tháng x 24 tháng = 18.684.000 đồng. Tổng: 65.584.000đồng.
- Dây hụi (14): Phần hụi 5.000.000/tháng (hụi tháng); số tiền lẽ ra được nhận là 52.500.000 đồng. Từ 60.000.000 đồng trừ đi 5.000.000 đồng (hụi chết) và trừ 2.500.000 đồng (50% hoa hồng cho bà H); Tiền lãi tạm tính từ ngày 18/12/2021 đến ngày 18/01/2023: 52.500.000đồng x 1,66%/tháng x 25 tháng = 21.787.000 đồng. Tổng: 74.287.000đồng.
- Dây hụi (15): Phần hụi 5.000.000/tháng (hụi tháng); số tiền lẽ ra được nhận là 52.500.000 đồng. Từ 60.000.000 đồng trừ đi 5.000.000 đồng (hụi chết) và trừ 2.500.000 đồng (50% hoa hồng cho bà H); Tiền lãi tạm tính từ ngày 18/12/2021 đến ngày 18/01/2023: 52.500.000đồng x 1,66%/tháng x 25 tháng = 21.787.000 đồng. Tổng: 74.287.000đồng.
- Dây hụi (16): Phần hụi 2.000.000/tuần (hụi tuần). Số tiền đã đóng là 27.420.000 đồng; Tiền lãi tạm tính từ ngày 18/01/2021 đến ngày 18/01/2023: 27.420.000đồng x 1,66%/tháng x 24 tháng = 10.924.000 đồng. Tổng: 38.344.000đồng.
- Dây hụi (17): Phần hụi 10.000.000/tháng (hụi tháng). Số tiền đã đóng là 43.100.000 đồng; Tiền lãi tạm tính từ ngày 10/01/2021 đến ngày 10/01/2023: 43.100.000đồng x 1,66%/tháng x 24 tháng = 17.240.000 đồng. Tổng: 60.340.000đồng.
- Dây hụi (18): Phần hụi 10.000.000/tháng (hụi tháng). Số tiền đã đóng là 41.200.000 đồng; Tiền lãi tạm tính từ ngày 10/01/2021 đến ngày 10/01/2023: 41.200.000đồng x 1,66%/tháng x 24 tháng = 16.480.000 đồng. Tổng: 57.680.000đồng.
Tổng: 1.023.856.000 đồng (một tỷ không trăm hai mươi ba triệu tám trăm năm mươi sáu ngàn đồng).
Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp cho Tòa án là:
- 18 văn bản ghi danh sách các thành viên tham gia 18 dây hụi do bà Nguyễn Kim H tổ chức;
- Giấy xác nhận nợ hụi ngày 02/2/2021;
- Văn bản trình bày nội dung trao đổi các tin nhắn giữa ông Lê Quốc P và bà Nguyễn Kim H.
Bị đơn bà Nguyễn Kim H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng nhưng bị đơn bà Nguyễn Kim H không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ biên bản xác minh tại Công an phường T xác định bà Nguyễn Kim H hiện cư trú tại địa chỉ: Số D, đường N, Tổ G, Khu phố G, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương nhưng thường xuyên vắng nhà. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi cư trú hiện tại của bà H, trụ sở Ủy ban nhân dân phường T H1 và trụ sở Tòa án theo quy định Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng bị đơn bà H không đến Tòa án tham gia tố tụng và cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, bị đơn phải chịu hậu quả cho việc không cung cấp được chứng cứ để phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mộng T: Thống nhất ý kiến trình bày nguyên đơn ông Lê Quốc P về việc bà Nguyễn Kim H là người đứng ra tổ chức nhiều dây hụi theo tháng, tuần, ngày, có hưởng hoa hồng, bà H là người trực tiếp mời các hụi viên tham gia nhiều dây hụi trên. Trong đó, ông P và bà T là những người cùng tham gia nhiều dây hụi của bà H. Bà H trực tiếp nhận tiền đóng hụi từ ông P bà T nhưng không có giấy tờ giao nhận việc đóng hụi hay khui hụi, mọi giao dịch do bà H tự ghi nhận, các hụi viên không ai lưu giữ giấy tờ gì vì tin tưởng bà H. Nhưng sau đó bà H không giữ đúng lời cam kết, tự ý ngưng khui hụi và không thanh toán tiền hốt hụi cho các hụi viên, trong đó có ông P. Các hụi viên đã yêu cầu bà H phải trả lại số tiền hụi đã đóng và số tiền hốt hụi nhưng cho đến nay bà H vẫn cố tình không trả và không ai liên lạc được với bà H. Bà T có tham gia và là một trong số những hụi viên do bà H là người đứng ra tổ chức; bà H trực tiếp nhận tiền đóng hụi từ các hụi viên và thông báo việc hốt hụi thanh toán cho từng hụi viên nhưng sau đó bà H đã không thực hiện việc giao số tiền hụi đã được hốt và cũng không trả lại số tiền hụi đã đóng nên bà T, ông P đã khởi kiện yêu cầu bà H phải trả lại số tiền hụi đã đóng và được hốt.
Những người làm chứng trong vụ án gồm bà Lê Thị Mỹ X, ông Nguyễn Mạnh C và ông La Minh T1 đều có lời khai thống nhất như sau: Các ông bà đều là tiểu thương buôn bán tại chợ với bà Nguyễn Kim H, năm 2020, bà H có đứng ra tổ chức nhiều dây hụi và mời các ông bà tham gia, trong đó ông P và bà T cũng có tham gia. Bà H là người làm chủ hụi, tự lập và giữ số hụi, thông báo số thành viên tham gia, tự chịu trách nhiệm quản lý các dây hụi, thu tiền đóng hụi từ các thành viên và giao tiền cho thành viên hốt hụi tại các kỳ khui hụi nhưng không giao giấy tờ gì cho các hụi viên giữ. Mọi giấy tờ đều do bà H lập và giữ, việc đóng hụi, khui hụi đều do chúng tôi giao nhận trực tiếp với bà H, không có ký tên hay viết giấy giao nhận tiền gì cả. Hiện tại, các ông bà cũng chỉ có các danh sách tự theo dõi ghi lại việc mở hụi, khui hụi đối với những dây hụi tham gia, cũng không có chữ ký chữ viết gì của bà H. Các ông bà thống nhất thừa nhận lời khai của ông P và bà T là đúng sự thật về việc bà H là người đứng ra tổ chức nhiều dây hụi và mời các ông bà tham gia.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa có ý kiến: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đầy đủ, đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng là nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng theo quy định pháp luật, riêng bị đơn đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không tham gia phiên tòa là không chấp hành đúng pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến cũng như kiến nghị sửa chữa, bổ sung gì thêm về phần thủ tục. Về nội dung, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn ông Lê Quốc P khởi kiện “Tranh chấp hụi” với bà Nguyễn Kim H nên đây là vụ án “Tranh chấp hụi” theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật Dân sự. Theo biên bản xác minh ngày 27/7/2023 xác định bà Nguyễn Kim H hiện cư trú tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Kim H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mộng T vắng mặt. Những người làm chứng gồm ông Nguyễn Mạnh C, ông La Minh T1, bà Lê Thị Mỹ X đều có lời khai và có yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt
Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[3] Về nội dung: Ông P yêu cầu bà H trả số tiền hụi ông P đã đóng và tiền lãi chậm trả của 18 dây hụi tổng cộng là 1.023.856.000đồng theo Giấy xác nhận ngày 02/02/2021.
Cụ thể, số tiền hụi ông P đã đóng của 13 dây hụi cho bà H là 376.580.000đồng; 03 dây hụi ông P đã được hốt nhưng bà H chưa thanh toán cho ông là 355.000.000đồng. Ngoài ra, đối với 02 dây hụi ông P đã hốt thì ông P thừa nhận còn nợ tiền hụi chết chưa đóng cho bà H là 8.000.000đồng ông P đồng ý cấn trừ số tiền trên ra. Ông P xác định sau khi góp hụi, khui hụi, bà H đều không giao giấy tờ gì cho ông P hay các hụi viên khác giữ. Số tiền hụi ông P đã góp và được hốt bà H cũng không giao và trả lại cho ông. Do đó, ngày 02/02/2021, ông P đã tự tổng hợp số dây hụi ông tham gia, số tiền hụi ông đã đóng và được hốt nhưng chưa được bà H giao để yêu cầu bà H xác nhận nợ hụi theo Giấy xác nhận cùng ngày với tổng số tiền là 1.000.000.000đồng, trong đó đã bao gồm số tiền hoa hồng bà H được hưởng ông P đã tự cấn trừ, số tiền ông còn phải đóng cho 02 dây hụi đã hốt theo danh sách 18 dây hụi (bút lục 09 – 27) mà ông P đã lập.
[4] Quá trình giải quyết vụ án, bà H không tham gia tố tụng, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông P nên căn cứ Giấy xác nhận nợ hụi ngày 02/02/2021 có chữ ký chữ viết tên của bà H, kết quả cung cấp thông tin chủ thuê bao đối với số điện thoại 0903.093.xxx của Công ty D khu vực 8 xác định chủ thuê bao là bà Nguyễn Kim H, địa chỉ cư trú tại số D, đường N, Tổ G, Khu phố G, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, đồng thời căn cứ lời khai của nguyên đơn, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Mộng T và những người làm chứng trong vụ án là bà Lê Thị Mỹ X, ông Nguyễn Mạnh C và ông La Minh T1 là những hụi viên cùng tham gia các dây hụi do bà H tổ chức, có căn cứ xác định bà Nguyễn Kim H có tổ chức nhiều dây hụi tại phường T, thành phố T năm 2020 là đúng sự thật và ông Lê Quốc P là một trong số những hụi viên có tham gia góp hụi, khui hụi với bà H. Mặc dù, ông P không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh việc tham gia giao nhận tiền góp hụi, khui hụi với bà H đối với các dây hụi ông tham gia nhưng căn cứ Giấy xác nhận nợ hụi ngày 02/02/2021 do chính bà H ký tên xác nhận có “..nợ ông P tổng số tiền hụi là 1.000.000.000đồng và hẹn đến 30/02/2021 sẽ trả đủ”, căn cứ nội dung các tin nhắn trao đổi qua số điện thoại 0903.093.xxx giữa ông P và bà H có căn cứ xác định bà H có nợ ông Lê Quốc P số tiền hụi là 1.000.000.000đồng nên yêu cầu khởi kiện của ông P là có cơ sở chấp nhận
[5] Tuy nhiên, đối với yêu cầu tính lãi của ông P đối với 18 dây hụi với mức lãi suất 1,66%/tháng trên từng dây hụi theo thời gian chốt hụi mà ông P tự khai nhưng ông P không chứng minh được thỏa thuận về lãi khi tham gia hụi giữa ông P và bà H nên yêu cầu tính lãi trên từng dây hụi của ông đến thời điểm xét xử là không có căn cứ xem xét. Căn cứ trên tổng số tiền bà H thừa nhận còn nợ tiền hụi ông P là 1.000.000.000đồng theo Giấy xác nhận ngày 02/02/2021, ông P thừa nhận tổng số tiền trên đã bao gồm tiền lãi nhưng không cung cấp được chứng cứ thỏa thuận lãi, mức lãi suất và thời gian tính lãi; đồng thời tại bản tự khai ngày 23/5/2024, ông P xác định không yêu cầu tính lãi đối với số tiền nợ hụi của bà H nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Quốc P về việc buộc bị đơn bà Nguyễn Kim H phải trả cho ông Lê Quốc P tổng số tiền nợ hụi là 1.000.000.000đồng theo Giấy xác nhận nợ hụi ngày 02/02/2021.
[6] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về trình tự thủ tục tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp quy định pháp luật.
[7] Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 235, 254, 266, 267, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Quốc P đối với bị đơn bà Nguyễn Kim H về việc “Tranh chấp hụi”.
Buộc bà Nguyễn Kim H có trách nhiệm thanh toán cho ông Lê Quốc P số tiền nợ hụi theo Giấy xác nhận nợ hụi ngày 02/02/2021 là 1.000.000.000đồng (Một tỷ đồng)
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Quốc P về việc không yêu cầu tính lãi đối với số tiền nợ hụi của bà Nguyễn Kim H.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Kim H phải chịu 42.000.000đồng (Bốn mươi hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Lê Quốc P được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 21.358.000đồng (hai mươi mốt triệu ba trăm năm mươi tám ngàn theo Biên lai thu số AA/2021/0002874 ngày 08/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo luật định.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND TP. Thủ Dầu Một; - CCTHADS TP. Thủ Dầu Một; - Đương sự; - Lưu: HSVA, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Duy Nhân |
Bản án số 59/2024/DS-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hụi
- Số bản án: 59/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông P khởi kiện yêu cầu bà H phải trả lại số tiền hụi mà ông đã đóng và tiền lãi cho đến thời điểm xét xử
