TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2024/HS-ST
Ngày: 03/05/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Quang Thanh
Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trịnh Phước Đức
- Ông Ngô Rạng Đông
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa:
Bà Đặng Mỹ Phương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 05 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Thị Thanh T, sinh ngày 27/9/2000 – Giới tính: Nữ
Nơi sinh: Phú Quốc, Kiên Giang
Nơi ĐKTT: Tổ 10, Khu phố N, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Chỗ ở: Nhà trọ Thành Triệu, ấp Cây Thông Trong, xã Cửa Dương, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 07/12;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Con ông: Võ Thanh N (chết 2010) và bà Tăng Thị Mỹ D (sống);
Con trai Võ Lê Bảo A, sinh năm 2018
Tiền án, tiền sự: Không.
Tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2023.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Do cần ma tuý để sử dụng nên vào khoảng 14 giờ 50 phút ngày 27/12/2023, Võ Thị Thanh T sử dụng điện thoại di động hiệu Oppo liên lạc với một người phụ nữ (chưa rõ nhân thân) để mua một bịch ma tuý đá với giá 700.000 đồng, người phụ nữ đồng ý bán và hẹn giao ma tuý tại khu vực nghĩa trang N1 thuộc ấp S, xã D, thành phố P. Sau đó T mượn xe của một người bạn không rõ nhân thân nói đi công việc rồi một mình điều khiển xe chạy đến điểm hẹn để nhận ma tuý và giao tiền. Sau khi nhận được ma tuý, T cất giấu ma tuý vào lòng bàn chân trái rồi điều khiển xe về phòng số 2, nhà T tại tổ E, ấp C, xã C, thành phố P. Về đến nhà trọ, T đem ma tuý cất vào trong phòng ngủ. Đến 23 giờ 40 phút cùng ngày, Công an thành phố P đến kiểm tra, T sợ bị phát hiện nên đem ma tuý giấu vào co nước trong nhà vệ sinh thì bị bắt quả tang cùng ma tuý.
Ngày 02/01/2024, Võ Thị Thanh T bị Cơ quan cảnh sát Điều tra – Công an thành phố P khởi tố, tạm giam để điều tra.
Thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:
- - 01 bịch nylon màu trắng, được hàn kín kích thước 2,5cm x 3,7cm bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất đã được niêm phong.
- - 01 điện thoại di dộng hiệu Oppo màu cam, đã qua sử dụng, số Imeil 868574063510239, số Imei2 868574063510221.
Kết luận giám định:
Tại bản kết luận giám định số: 01/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 bịch nylon kích thước 2,5cm x 3,7cm được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng gửi giám định là 0,8918 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC. STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 01/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh K.
Tại bản cáo trạng số: 61/CT-VKSPQ ngày 02 tháng 04 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố bị cáo Võ Thị Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Võ Thị Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt Võ Thị Thanh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định.
Về biện pháp tư pháp:
Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy các hạt tinh thể màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 0,8539 gam đựng trong 01 bịch nylon được niêm phong trong một phong bì ký hiệu vụ 1378/2023.
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di dộng hiệu Oppo màu cam, đã qua sử dụng, số Imeil 868574063510239, số Imei2 868574063510221.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì đối với bản cáo trạng, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã công bố và không tranh luận gì đối với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án và cam kết không sử dụng ma tuý nữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Võ Thị Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, tang vật thu giữ được trong vụ án, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, tang vật là ma tuý mà bị cáo T cất giấu để sử dụng.
Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên vào khoảng 14 giờ 50 phút ngày 27/12/2023, Võ Thị Thanh T sử dụng điện thoại di động liên lạc với một người phụ nữ (chưa rõ nhân thân) để mua một bịch ma tuý đá với giá 700.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, T đem ma tuý về phòng trọ cất giấu để sử dụng. Đến 23 giờ 40 phút cùng ngày, T bị công an thành phố kiểm tra hành chính, bắt quả tang T đang tàng trữ trái phép chất ma tuý. Qua giám định, chất ma tuý T tàng trữ là Methamphetamine có khối lượng 0,8918 gam, đây là loại ma tuý nằm trong danh mục Nhà nước cấm lưu hành. Như vậy, hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng con người, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương, là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội và các loại tội phạm nguy hiểm khác, tuy nhiên bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa và quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định
[6]. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy các hạt tinh thể màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 0,8539 gam đựng trong 01 bịch nylon được niêm phong trong một phong bì ký hiệu vụ 1378/2023.
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di dộng hiệu Oppo màu cam, đã qua sử dụng, số Imeil 868574063510239, số Imei2 868574063510221.
[7]. Về quan điểm của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đề nghị về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với người phụ nữ bán ma tuý cho bị cáo không rõ nhân thân, khi nào điều tra làm rõ, xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ pháp luật: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Võ Thị Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Võ Thị Thanh T: 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 28/12/2023.
2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy các hạt tinh thể màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 0,8539 gam đựng trong 01 bịch nylon được niêm phong trong một phong bì ký hiệu vụ 1378/2023.
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di dộng hiệu Oppo màu cam, đã qua sử dụng, số Imeil 868574063510239, số Imei2 868574063510221.
(Tang vật trên đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Phú Quốc theo quyết định chuyển vật chứng số: 39/QĐ-VKSPQ-HS ngày 02/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lương Quang Thanh |
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ THị Thanh T thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý
