|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2024/HSST Ngày: 02 -7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hải
2. Bà Vũ Thị Ngọc Phan
– Thư ký phiên tòa: Bà Đào Huyền My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Mẫn Văn S, tên gọi khác: Không; sinh ngày 05/7/1987 tại Thái Nguyên; nơi cư trú: Xóm P, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Không; con ông Mẫn Văn T, sinh năm 1952 và con bà Hoàng Thị T1 (đã chết); bị cáo có vợ là Ngô Thị T2, sinh năm 1990 (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2009;
Tiền án: 03
- + Tại bản án số 22/2016/HSST ngày 21/01/2016, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/10/2016.
- + Tại bản án số 154/2018/HSST ngày 16/4/2018, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2018.
- + Tại bản án số 150/2019/HSST ngày 31/10/2019, Tòa án nhân dân huyện Phú Bình xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/9/2022.
Tiền sự: 01. Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 01/2023/QĐ –TA ngày 13/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình đã quyết định buộc S chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 tháng. Bị cáo chấp hành xong ngày 08/12/2023.
Nhân thân: 01. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ –XPHC ngày 10/3/2015, Công an xã L, huyện P xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo bị bắt từ ngày 10/12/2023 cho đến nay (Có mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bùi Văn L, sinh năm 1955 – Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh T (Có mặt)
* Bị hại:
1. Chị Hoàng Thị M, sinh năm 1989; nơi cư trú: Xóm P, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Người đại diện hợp pháp cho chị M: Bà Trần Thị M1, sinh năm 1954, nơi cư trú: Xóm P, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị M: Bà Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1985 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh T (Có mặt)
2. Bà Hoàng Thị M2, sinh năm 1970; nơi cư trú: Xóm P, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Người làm chứng:
1. Bà Trần Thị M1, sinh năm 1954, nơi cư trú: Xóm P, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt)
2. Ông Nguyễn Đức T3, sinh năm 1963, nơi cư trú: Xóm P, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 09/12/2023, sau khi ăn cơm uống rượu tại nhà, Mẫn Văn S nảy sinh ý định quan hệ tình dục với người khác giới để thỏa mãn ham muốn của bản thân. S thấy chị Hoàng Thị M, sinh năm 1989 là người cùng xóm mắc bệnh liên quan đến thần kinh chưa lấy chồng, hiện đang ở cùng mẹ đẻ là bà Trần Thị M1 sẽ dễ cho S thực hiện hành vi quan hệ tình dục. S lấy 01 chiếc khăn dạng hình vuông nhiều mầu, 01 dây dải rút quần màu đen và 01 cuộn băng dính màu đen cất vào túi bên quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi bộ một mình đến nhà bà M1. Đến nơi, thấy bà M1 đang đứng ở cửa, chị M đang ở trong bếp, S gọi và nói với bà M1 “Bà C tìm” mục đích lừa bà M1 đi ra khỏi nhà để S dễ dàng thực hiện hành vi quan hệ tình dục với chị M. Sau khi thấy bà M1 đi ra khỏi nhà, S đi vòng ra sau nhà rồi lấy khăn ra bịt mặt rồi trèo qua bờ tường vào nhà. Nhìn thấy
chị M đang ngồi gần cửa bếp, S đến gần và nói “Mến ơi”, chị M quay lại rồi đứng dậy và đuổi S ra khỏi nhà. S dùng hai tay ôm vào vùng ngực chị M từ phía sau, chị M kêu lên thì S dùng tay trái bịt miệng không cho kêu, tay phải nắm tay chị M kéo ra khu vực ngách giữa nhà bếp và nhà chính. S đè chị M nằm ngửa xuống đất, dùng tay giữ miệng, giữ cổ, bóp cổ chị M không cho kêu thì chị M giẫy giụa và kêu to đồng thời đạp vào đùi S. Sợ bị phát hiện, S trèo tường và bỏ chạy khỏi nhà chị M. Bà M1 về nhà và được chị M nói lại sự việc. Bà M1 đã trình báo Công an xã L đề nghị giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.
Không thực hiện được hành vi quan hệ tình dục với chị M, S nảy sinh ý định quan hệ tình dục với bà Hoàng Thị M2 là người cùng xóm đang sinh sống một mình. S đi bộ đến nhà bà M2 thấy cổng bị khóa, S để đôi dép ở cổng nhà bà M2 rồi đi ra khu vực bờ ruộng gần cổng ngồi chờ bà M2 về thì sẽ lẻn vào nhà. Khoảng 30 phút sau bà M2 về nhà, S lấy băng dính đen dán vào mặt mình mục đích để bà M2 không nhận ra, rồi lẻn đi sau bà M2 vào cổng rồi đi vào trong bếp và ngồi trong phòng tắm nhà bà M2 chờ. Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 10/12/2023 bà M2 phát hiện và đuổi S ra khỏi nhà, S liền xin nước uống, bà M2 đi rót nước đưa cho S uống rồi tiếp tục đuổi S ra khỏi nhà. S tiếp tục xin nước, bà M2 đi rót nước đưa cho S. Sang lúc này dùng hai tay ôm vào người bà M2 rồi dùng tay phải túm tóc bà M2 đè nằm ngửa xuống nền thềm nhà chính, S nằm đè lên người bà M2, dùng tay trái bịt miệng không cho bà M2 kêu. S đưa tay xuống dưới kéo quần ngoài và quần lót bà M2, rồi tự cởi quần dài và quần lót của S. Bà M2 dùng chân đạp vào người S khiến S bị ngã, phần đùi và gối phải của S đập vào bậc thềm. S dùng tay phải kéo tay bà M2 vào trong nhà, bà M2 với chiếc ghế nhựa đập vào lưng S nhưng không để lại thương tích. S đè bà M2 nằm ngửa xuống nền nhà, bà M2 chống cự dùng tay cào cấu vào mặt S nhưng S dùng sức khống chế và thực hiện hành vi giao cấu với bà M2 khoảng 01 phút, bà M2 vẫn giãy giụa và dùng chân đạp vào người S, S rút dương vật ra rồi xuất tinh vào vùng bẹn và đùi của bà M2. Lúc này S mệt nên nằm nghỉ, vẫn dùng tay phải giữ chéo hai tay của bà M2 để bà M2 không ngồi dậy được. Khoảng 15 phút sau, S tiếp tục thực hiện hành vi quan hệ tình dục với bà M2 lần thứ hai, bà M2 giẫy giụa không cho S quan hệ. S dùng sức đè bà M2 và tiếp tục thực hiện hành vi giao cấu khoảng 20 giây thì rút dương vật ra khỏi âm đạo của bà M2. Sau đó M2 đứng dậy mặc quần áo rồi đi ra cổng, bà M2 cũng mặc quần đùi khác ra mở cổng cho S về rồi đóng cổng lại. Bà M2 đi vào nhà vệ sinh thay quần áo rồi đến Công an xã L trình báo sự việc.
Ngày 10 và ngày 13 tháng 12 năm 2023, bà M2, bà M1 (mẹ đẻ của chị Hoàng Thị M) có đơn yêu cầu khởi tố đối với Mẫn Văn S về hành vi quan hệ tình dục đến Công an huyện P.
Tại Bản Kết luận giám định xâm hại tình dục số 70/KLXHTD-TTPY ngày 14/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T đối với bà Hoàng Thị M2, kết luận: Màng trinh đã rách, vết rách cũ tại vị trí 3h, 5h, 7h, 9h. Phía ngoài màng trinh có vết nề đỏ tại vị trí 3h, 9h. Vùng cổ trước có 04 vết xây sát da nông nhỏ trên nền da bầm tím nhạt.
Kết luận giám định xâm hại tình dục số 71/KLXHTD-TTPY ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T đối với chị Hoàng Thị M, kết luận: “Màng trinh chưa có vết rách. Vùng cổ bên phải có 01 vết thương đang liền sẹo KT nhỏ”.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1037/KLTTCT-TTPY ngày 14/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T đối với bà Hoàng Thị M2, kết luận: Vùng cổ trước có 04 vết xây sát da nông nhỏ trên nền da bầm tím nhạt. Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Thị M2 tại thời điểm giám định là 0% (Không phần trăm).
Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1038/KLTTCT-TTPY ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T đối với chị Hoàng Thị M, kết luận: Hiện tại có 01 sẹo vết thương đang liền sẹo vùng cổ KT nhỏ. Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Thị M tại thời điểm giám định là 2% (Hai phần trăm).
* Ngày 11 tháng 12 năm 2023, Công an huyện P ra Quyết định trưng cầu giám định số 247/QĐ -ĐTTH, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh T giám định nồng độ cồn và các chất ma túy trong mẫu máu của Mẫn Văn S.
Tại Bản Kết luận giám định độc chất số 61/KLGĐĐC-TTPY ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận: Trong mẫu máu không tìm thấy cồn, có tìm thấy M3.
* Cùng ngày, Công an huyện P có Quyết định trưng cầu giám định số 248/QĐ -ĐTTH, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh T giám định chiếc quần cộc màu đen của bà Hoàng Thị M2 có tinh dịch, tinh trùng hoặc xác tinh trùng không? Nếu có đề nghị xác định kiểu gen?.
Tại Bản Kết luận giám định ADN số 35/KLGÐADN-TTPY ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận: Thử định tính phát hiện nhanh vết tinh dịch người trên chiếc quần cộc màu đen gửi giám định kết quả dương tính. T2 được dữ liệu ADN từ chiếc quần cộc màu đen gửi giám định.
* Ngày 02 tháng 01 năm 2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P có Quyết định trưng cầu giám định số 07/QĐ -ĐTTH, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh T giám định 02 mảnh băng dính màu đen, có dính nhiều sợi tóc màu đen thu giữ tại nhà bà M2, được niêm phong trong phong bì ký hiệu H3 có mô, tế bào người hay không, nếu có thì có phải của Mẫn Văn S hay không? Dữ liệu ADN theo Bản kết luận giám định ADN số 35/KLGÐADN-TTPY ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T có phải của Mẫn Văn S hay không?
Tại Bản Kết luận giám định ADN số 01/KLGÐADN-TTPY ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận: Dữ liệu ADN thu được trên mẫu gửi giám định ký hiệu H3 trùng khớp với dữ liệu ADN của Mẫn Văn S. Dữ liệu ADN theo Bản kết luận giám định số 35/KLGĐADN-TTPY ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T trùng khớp với dữ liệu ADN của Mẫn Văn S.
Quá trình điều tra thu thập tài liệu xác định chị Hoàng Thị M có sổ khám và điều trị bệnh động kinh tại Bệnh viện S1, có giấy xác nhận khuyết tật ở mức độ khuyết tật nặng của UBND xã L và được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng.
Tại cơ quan điều tra, Mẫn Văn S đã thành khẩn khai báo rõ toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai nhận của S phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Về vật chứng của vụ án gồm:
- + 05 sợi tóc màu đen, được niêm phong trong phong bì ký hiệu H1;
- + 10 sợi tóc màu đen, được niêm phong trong phong bì ký hiệu H4;
- + 01 chiếc quần vải màu đen, loại quần cộc, cũ, đã qua sử dụng của bà Hoàng Thị M2 được niêm phong trong hộp giấy kí hiệu “H2”;
- + 01 chiếc ghế đẩu bằng nhựa, màu xanh, kích thước (0,26x0,24x0,32)m, được niêm phong trong hộp catton ký hiệu H5.
- + 01 quần cộc màu đen, cạp quần bên trong gắn size 32, cũ, đã qua sử dụng; 01 áo cộc tay màu đen – xanh – vàng – cam, cũ, đã qua sử dụng; 01 quần lót hình tam giác màu đen – đỏ – xanh cam – trắng, cũ, đã qua sử dụng của bà Hoàng Thị M2, tất cả được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu “Q2”;
- + 01 áo khoác dài tay màu đen, có khóa kéo phía trước, cũ, đã qua sử dụng; 01 áo lót cộc tay màu trắng, phía trong cổ áo có dòng chữ “adidas”, cũ, đã qua sử dụng; 01 quần bò dài màu đen, cạp quần có gắn mác ký hiệu “DC”, cũ, đã qua sử dụng; 01 quần lót hình chữ nhật màu đen, cạp quần màu đỏ - đen, in dòng chữ “SUMO” màu đỏ, cũ, đã qua sử dụng; 01 đôi dép nhựa, loại dép tổ ong màu trắng, cũ, đã qua sử dụng; 01 mảnh vải hình vuông, màu đỏ – trắng – xanh – đen – vàng, kích thước (49x49) cm, cũ, đã qua sử dụng; 01 đoạn dây bằng vải màu đen dài 93 cm, một đầu có nút thòng lọng, cũ, đã qua sử dụng; 01 khẩu trang bằng vải màu tím, cũ, đã qua sử dụng của Mẫn Văn S, tất cả được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu “Q”;
Về trách nhiệm dân sự:
Chị Hoàng Thị M, bà Trần Thị M1 và bà Hoàng Thị M2 không yêu cầu S bồi thường.
Cáo trạng số 35/CT -VKSPB ngày 03 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đã truy tố bị cáo S về tội “Hiếp dâm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, đ, i khoản 2 Điều 141 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 09/12/2023 do muốn thỏa mãn nhu cầu tình dục của bản thân nên đã đến nhà chị M là người cùng xóm bị bệnh động kinh chưa có chồng để quan hệ tình dục. Sang chuẩn bị khăn, dải rút quần và 01 cuộn băng dính màu đen cất vào túi bên phải phía trước quần đang mặc với mục đích để chị M không nhận ra và sử dụng dây để trói nếu chị M kháng cự không cho quan hệ. S lấy khăn bịt mặt rồi trèo tường vào nhà. Khi vào nhà thấy chị M đang ngồi gần cửa bếp, S gọi “Mến ơi” thì chị M quay lại đứng dậy
đuổi S. S dùng hai tay ôm vào vùng ngực chị M từ phía sau, chị M kêu lên S liền lấy tay trái bịt miệng chị M không cho kêu còn tay phải kéo tay chị M vào khu vực ngách giữa nhà bếp và nhà chính đè chị M nằm ngửa xuống đất đồng thời dùng tay giữ miệng, giữ cổ, bóp cổ chị M. Chị M giẫy giụa kêu to đồng thời đạp vào đùi S. Sợ bị phát hiện S trèo tường bỏ chạy. Không thực hiện được hành vi quan hệ tình dục với chị M, S nảy sinh ý định quan hệ tình dục với bà Hoàng Thị M2 là người cùng xóm đang sinh sống một mình. S lẻn vào trong bếp nhà bà M2 để chờ. Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 10/12/2023 bà M2 phát hiện và đuổi S ra khỏi nhà. S dùng hai tay ôm bà M2, rồi dùng tay phải túm tóc bà M2 và dùng sức đè bà M2 nằm ngửa xuống nền nhà, S nằm đè lên người bà M2, tay trái bịt miệng bà M2 không cho kêu. Sau đó S đưa hai tay xuống kéo quần đùi và quần lót của bà M2 và của S ra khỏi chân. Bà M2 dùng chân đạp vào S khiến S bị ngã, S tiếp tục kéo bà M2 vào trong nhà. S đè bà M2 nằm ngửa xuống nền nhà, bà M2 dùng tay cào cấu vào mặt S để chống cự nhưng S dùng sức khống chế và thực hiện hành vi giao cấu khoảng 01 phút thì S rút dương vật ra xuất tinh vào vùng bẹn, đùi của bà M2. Do mệt S nằm nghỉ tay phải vẫn giữ chéo 02 tay bà M2. Khoảng 15 phút sau, S tiếp tục quan hệ tình dục với bà M2 lần thứ hai khoảng 20 giây dừng lại. S đứng dậy mặc quần áo rồi đi ra cổng, bà M2 cũng mặc quần rồi ra mở cổng cho S về.
Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Mẫn Văn S phạm tội “Hiếp dâm”.
* Về hình phạt chính: Áp dụng điểm d, đ, i khoản 2 Điều 141; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo S từ 11 đến 12 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về vật chứng của vụ án: Các đồ vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy gồm:
- + 05 sợi tóc màu đen được niêm phong trong bì thư ký hiệu H1 và 10 sợi tóc màu đen được niêm phong trong bì thư ký hiệu H4;
- + 01 chiếc quần vải màu đen, loại quần cộc, cũ, đã qua sử dụng của bà Hoàng Thị M2 được niêm phong trong hộp giấy kí hiệu “H2”;
- + 01 chiếc ghế đẩu bằng nhựa, màu xanh, kích thước (0,26x0,24x0,32), được niêm phong trong hộp catton ký hiệu H5.
- + 01 quần cộc màu đen, cạp quần bên trong gắn size 32, cũ, đã qua sử dụng; 01 áo cộc tay màu đen – xanh – vàng – cam, cũ, đã qua sử dụng; 01 quần lót hình tam giác màu đen – đỏ – xanh cam – trắng, cũ, đã qua sử dụng của bà Hoàng Thị M2, tất cả được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu “Q2”;
- + 01 áo khoác dài tay màu đen, có khóa kéo phía trước, cũ, đã qua sử dụng; 01 áo lót cộc tay màu trắng, phía trong cổ áo có dòng chữ “adidas”, cũ, đã qua sử dụng; 01 quần bò dài màu đen, cạp quần có gắn mác ký hiệu “DC”, cũ, đã qua sử dụng; 01 quần lót hình chữ nhật màu đen, cạp quần màu đỏ - đen, in dòng chữ “SUMO” màu đỏ, cũ, đã qua sử dụng;
- 01 đôi dép nhựa, loại dép tổ ong màu trắng, cũ, đã qua sử dụng; 01 mảnh vải hình vuông, màu đỏ – trắng – xanh – đen – vàng, kích thước (49x49) cm, cũ, đã qua sử dụng; 01 đoạn dây bằng vải màu đen dài 93 cm, một đầu có nút thòng lọng, cũ, đã qua sử dụng; 01 khẩu trang bằng vải màu tím, cũ, đã qua sử dụng của Mẫn Văn S, tất cả được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu “Q”;
* Về trách nhiệm dân sự: Chị Hoàng Thị M, bà Trần Thị M1 và bà Hoàng Thị M2 không yêu cầu giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
* Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo: Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Hiếp dâm” theo điểm d, đ, i khoản 2 Điều 141 BLHS là có căn cứ. Mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị là quá nghiêm khắc. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 BLHS, xử phạt Mẫn Văn S mức án từ 8 đến 9 năm tù là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Phần bồi thường thiệt hại không đặt ra vì các bị hại không yêu cầu.
- Về án phí: Anh Mẫn Văn S thuộc hộ cận nghèo. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử miễn tiền án phí hình sự cho bị cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Hiếp dâm” theo điểm d, đ, i khoản 2 Điều 141 BLHS là có căn cứ. Và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 BLHS đối với bị cáo bởi vì chị Hoàng Thị M là người khuyết tật đã được UBND xã L xác định mức độ khuyết tật theo Thông tư 01/2019/TT –BLĐTBXH quy định về việc xác định mức độ khuyết tật do Hội đồng xác định mức độ khuyết tật thực hiện. Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường bất kỳ khoản nào. Đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, đề nghị HĐXX miễn án phí hình sự cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát: Bị cáo là người trưởng thành, có năng lực hành vi dân sự, vì ham muốn cá nhân mà đã có hành vi vi phạm đối với chị Hoàng Thị M, là hàng xóm, là người khuyết tật nặng đang hưởng trợ cấp hàng tháng có xác nhận của UBND xã theo Thông tư 01/2019/TT –BLĐTBXH. Sau đó, S tiếp tục có hành vi giao cấu trái ý muốn với bà Hoàng Thị M2 hai lần cũng là hàng xóm của S. Hành vi của S là bất chấp tình làng nghĩa xóm, coi thường đạo đức xã hội do vậy áp dụng tình tiết tăng nặng và mức án Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp và đúng quy định pháp luật.
Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử không oan, đúng người, đúng tội.
Phần lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác. Có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 09/12/2023 tại nhà chị Hoàng Thị M là người thuộc diện “khuyết tật nặng” được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, Mẫn Văn S có hành vi dùng vũ lực uy hiếp nhằm giao cấu trái ý muốn với chị M nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục nhưng bị chị M chống cự quyết liệt nên S không thực hiện được hành vi. Sau đó cùng ngày, S tiếp tục đến nhà bà M2 cũng là người cùng xóm với S đến khoảng 00 giờ 00 phút ngày 10/12/2023 S dùng vũ lực uy hiếp khống chế và thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với bà M2 02 lần, sau khi thực hiện xong S về nhà. Bà Trần Thị M1 (mẹ đẻ chị M) và bà Hoàng Thị M2 có đơn trình báo Công an để nghị giải quyết theo quy định.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Hiếp dâm", tội phạm và hình phạt quy định tại điểm d, đ, i khoản 2 Điều 141 BLHS.
Nội dung điều 141 BLHS quy định:
“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ từ 07 năm đến 15 năm:
a,b...
d, Phạm tội 02 lần trở lên;
đ, Đối với 02 người trở lên;
i, Tái phạm nguy hiểm”
Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của bị hại, gây hoang mang bất bình trong nhân dân bởi bị hại là người luôn cần sự chăm lo, bảo vệ của cộng đồng xã hội. Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội. Bản án xét xử bị cáo còn là bài học về ý thức tôn trọng, danh dự, nhân phẩm, sức khỏe con người được pháp luật quy định.
[4] Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 BLHS đó là “phạm tội đối với người khuyết tật nặng”.
[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Các đồ vật thu giữ của bị cáo, bị hại không còn giá trị sử dụng, bị cáo và bị hại không nhận lại tài sản nên cần tịch thu tiêu hủy gồm:
- + 05 sợi tóc màu đen được niêm phong trong bì thư ký hiệu H1;
- + 10 sợi tóc màu đen được niêm phong trong bì thư ký hiệu H4;
- + 01 chiếc quần vải màu đen, loại quần cộc, cũ, đã qua sử dụng của bà Hoàng Thị M2 được niêm phong trong hộp giấy kí hiệu H2;
- + 01 chiếc ghế đẩu bằng nhựa, màu xanh, kích thước (0,26x0,24x0,32), được niêm phong trong hộp catton ký hiệu H5.
- + 01 quần cộc màu đen, cạp quần bên trong gắn size 32, cũ, đã qua sử dụng; 01 áo cộc tay màu đen – xanh – vàng – cam, cũ, đã qua sử dụng; 01 quần lót hình tam giác màu đen – đỏ – xanh cam – trắng, cũ, đã qua sử dụng của bà Hoàng Thị M2, tất cả được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu Q2;
- + 01 áo khoác dài tay màu đen, có khóa kéo phía trước, cũ, đã qua sử dụng; 01 áo lót cộc tay màu trắng, phía trong cổ áo có dòng chữ “adidas”, cũ, đã qua sử dụng; 01 quần bò dài màu đen, cạp quần có gắn mác ký hiệu “DC”, cũ, đã qua sử dụng; 01 quần lót hình chữ nhật màu đen, cạp quần màu đỏ - đen, in dòng chữ “SUMO” màu đỏ, cũ, đã qua sử dụng; 01 đôi dép nhựa, loại dép tổ ong màu trắng, cũ, đã qua sử dụng; 01 mảnh vải hình vuông, màu đỏ – trắng – xanh – đen – vàng, kích thước (49x49) cm, cũ, đã qua sử dụng; 01 đoạn dây bằng vải màu đen dài 93 cm, một đầu có nút thòng lọng, cũ, đã qua sử dụng; 01 khẩu trang bằng vải màu tím, cũ, đã qua sử dụng của Mẫn Văn S, tất cả được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu Q;
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác. Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Mẫn Văn S phạm tội "Hiếp dâm"
- Áp dụng điều luật và mức hình phạt: Áp dụng điểm d, đ, i khoản 2 Điều 141; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS: Xử phạt bị cáo 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/12/2023.
- Căn cứ vào Điều 329 BLTTHS: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy:
- 3.1. 01(một) bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ có ký hiệu H1, bên trong có chứa 05 sợi tóc màu đen;
- 3.2. 01(một) bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ có ký hiệu H4, bên trong có chứa 10 sợi tóc màu đen;
- 3.3. 01 (hộp) catton niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu H5, bên trong có chứa 01 chiếc ghế đẩu bằng nhựa, màu xanh, kích thước (0,26x0,24x0,32)m;
- 3.4. 01 (hộp) giấy niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu Q2, bên trong có chứa 01 quần cộc màu đen, cạp quần bên trong gắn size 32 cũ, đã qua sử dụng; 01 áo cộc tay màu đen – xanh – vàng – cam, cũ, đã qua sử dụng; 01 quần lót hình tam giác màu đen – đỏ – xanh cam – trắng, cũ, đã qua sử dụng của bà Hoàng Thị M2;
- 3.5. 01 (hộp) giấy niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu H2, bên trong có 01 chiếc quần vải màu đen, loại quần cộc, cũ đã qua sử dụng của bà Hoàng Thị M2.
- 3.6. 01 (hộp) giấy niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu Q, bên trong có chứa 01 áo khoác dài tay màu đen, có khóa kéo phía trước, cũ, đã qua sử dụng; 01 áo lót cộc tay màu trắng, phía trong cổ áo có dòng chữ “adidas”, cũ, đã qua sử dụng; 01 quần bò dài màu đen, cạp quần có gắn mác ký hiệu “DC”, cũ, đã qua sử dụng; 01 quần lót hình chữ nhật màu đen, cạp quần màu đỏ - đen, in dòng chữ “SUMO” màu đỏ, cũ, đã qua sử dụng; 01 đôi dép nhựa, loại dép tổ ong màu trắng, cũ, đã qua sử dụng; 01 mảnh vải hình vuông, màu đỏ – trắng – xanh – đen – vàng, kích thước (49x49) cm, cũ, đã qua sử dụng; 01 đoạn dây bằng vải màu đen dài 93 cm, một đầu có nút thòng lọng, cũ, đã qua sử dụng; 01 khẩu trang bằng vải màu tím, cũ, đã qua sử dụng của Mẫn Văn S;
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/5/2024 giữa Công an huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên).
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo S.
Án xử công khai, bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trương Thị Thanh Trúc |
Bản án số 59/2024/HSST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về hiếp dâm
- Số bản án: 59/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hiếp dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hiếp dâm
