Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 59/2024/DS-ST

Ngày 02-5-2024

V/v tranh chấp “Hợp đồng mua bán"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sắc Ly.

Các Hội thẩm nhân nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tất Ái
  2. Bà Lê Thị Thu Yến

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho: Bà Đặng Kiều My – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 457/2023/TLST-DS ngày 08 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp “Hợp đồng mua bán".

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2019/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH P.

Trụ sở: Quốc lộ C, cụm C, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện theo pháp luật: Ông Hà Văn M – Thành viên Hội đồng thành viên và ông Nguyễn Vũ Thành N – Tổng Giám đốc Công ty TNHH P.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Văn M ủy quyền cho ông Nguyễn Vũ Thành N, theo giấy ủy quyền ngày 20/02/2023.

Đại diện theo ủy quyền lại:

  1. Bà Huỳnh Thị Quỳnh H, theo hợp đồng ủy quyền ngày 24/3/2023.
  2. Địa chỉ: Số B, đường T, phường H, TP C, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Ông Huỳnh Tấn C, sinh năm 1986, theo hợp đồng ủy quyền ngày 20/01/2024.
  4. Địa chỉ: Quốc lộ C, Cụm C, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

-Bị đơn: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1966.

Địa chỉ: Số A, đường T, phường D, tp M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Công ty TNHH P1 có đại diện theo ủy quyền Huỳnh Thị Quỳnh H và ông Huỳnh Tấn C thống nhất trình bày: Do có đối chiếu lại so với đơn kiện về số liệu, nên có thay đổi số liệu cụ thể như sau:

Căn cứ theo hợp đồng số 00029/HD-PIL2020 ngày 16/10/2019 về việc mua bán thức ăn thủy sản giữa Công ty TNHH P1 (đại diện là ông Riel Razo G, chức vụ Giám đốc) với ông Nguyễn Văn H1.

Căn cứ phụ lục hợp đồng số PL00000107 ngày 16/10/2019 thoả thuận về phương thức thanh toán đối với khách hàng Nguyễn Văn H1, tại Điều 1 về phương thức thanh toán hợp đồng, hai bên thỏa thuận: “Bên mua sẽ thanh toán cho bên bán trong vòng 60 ngày kể từ ngày xuất hóa đơn bán hàng, nếu tới thời gian thanh toán mà bên mua vẫn không thanh toán thì bên bán có quyền tính lãi đối với các hóa đơn chưa thanh toán; Lãi suất đối với các hóa đơn được thỏa thuận là 1%/tháng.”

Công ty chúng tôi đã cung cấp thức ăn đúng chất lượng, số lượng theo đúng thỏa thuận của hai bên. Tuy nhiên, ông H1 đã nhận đủ số lượng thức ăn thủy sản của Công ty TNHH P1 nhưng vẫn chưa thanh toán tiền đối với các hóa đơn gồm:

  1. Hóa đơn số 6HD0005062 ngày 29/02/2020, tổng số tiền của hóa đơn này là 170.540.000 đồng. Ông H1 đã thanh toán 148.663.146 đồng, cụ thể:
  2. Ngày 20/10/2021 ông Hữu thanh t cho Công ty số tiền là 74.913.146 đồng.

    Ngày 26/11/2021 ông Hữu thanh t cho Công ty số tiền là 73.750.000 đồng.

    Như vậy, ông H1 còn nợ hóa đơn này với số tiền 21.876.854 đồng.

  3. Hóa đơn số 6HD0005214 ngày 09/03/2020, chưa thanh toán số tiền là 126.140.000 đồng.
  4. Hóa đơn số 6HD0005062 ngày 20/03/2020,chưa thanh toán số tiền là 186.940.000 đồng.
  5. Hóa đơn số 6HD0005586 ngày 31/03/2020,chưa thanh toán số tiền là 182.800.000 đồng.
  6. Hóa đơn số 6HD0005831 ngày 13/04/2020,chưa thanh toán số tiền là 244.600.000 đồng.
  7. Hóa đơn số 6HD0006731 ngày 04/6/2020,chưa thanh toán số tiền là 85.120.000 đồng.
  8. Hóa đơn số 6HD0007208 ngày 03/07/2020,chưa thanh toán số tiền là 133.760.000 đồng.
  9. Hóa đơn số 6HD0007642 ngày 31/07/2020,chưa thanh toán số tiền là 122.400.000 đồng.
  10. Hóa đơn số 6HD0007864 ngày 15/8/2020,chưa thanh toán số tiền là 119.350.000 đồng.
  11. Hóa đơn số 7HD0000057 ngày 27/08/2020,chưa thanh toán số tiền là 125.600.000 đồng.
  12. Hóa đơn số 7HD0000349 ngày 14/09/2020,chưa thanh toán số tiền là 118.965.000 đồng.
  13. Hóa đơn số 7HD0000729 ngày 06/10/2020,chưa thanh toán số tiền là 115.850.000 đồng.
  14. Hóa đơn số 7HD0001234 ngày 07/11/2020,chưa thanh toán số tiền là 132.720.000 đồng.
  15. Tổng giá trị của 13 hóa đơn còn nợ là 1.716.121.854 đồng.

Căn cứ Hợp đồng số HD-PILF/0094 ngày 02/01/2021 về việc mua bán thức ăn thủy sản giữa Công ty TNHH P1 (đại diện là ông Lê K, chức vụ Tổng Giám đốc) với ông Nguyễn Văn H1.

Sau khi ký hợp đồng số HD-PILF/0094, Công ty chúng tôi tiếp tục cung cấp thức ăn theo đúng thỏa thuận. ông H1 đã nhận đủ số lượng thức ăn thủy sản của Công ty TNHH P1 nhưng vẫn chưa thanh toán tiền đối với các hóa đơn gồm:

  1. Hóa đơn số 7HD0003488 ngày 13/03/2021, chưa thanh toán số tiền là 107.700.000 đồng.
  2. Hóa đơn số 7HD0003707 ngày 26/03/2021, chưa thanh toán số tiền là 108.310.000 đồng.
  3. Hóa đơn số 0000276 ngày 20/05/2021,chưa thanh toán số tiền là 103.160.000 đồng.
  4. Hóa đơn số 0000660 ngày 09/06/2021,chưa thanh toán số tiền là 103.258.750 đồng.
  5. Tổng giá trị của 4 hóa đơn chưa thanh toán là 422.428.750 đồng.

Căn cứ Báo cáo công nợ khách hàng từ ngày 01/5/2021 đến ngày 31/10/2021, Công ty TNHH P1 tiến hành đối chiếu công nợ với khách hàng Nguyễn Văn H1. Khách hàng Nguyễn Văn H1 có ký tên xác nhận vào bảng báo cáo công nợ xác định tính đến ngày 31/10/2021 ông H1 còn nợ Công ty TNHH P1 số tiền là 2.750.814.363 đồng. Tiền nợ gốc của các hóa đơn chưa thanh toán là 2.212.300.604 đồng.

Tiền nợ lãi chậm trả đối với các hóa đơn từ ngày 22/11/2019 đến ngày 29/02/2020) mà ông H1 đã thanh toán cho Công ty từ ngày 22/10/2021 là 538.513.759 đồng.

Ngày 26/11/2021 khách hàng Nguyễn Văn H1 mua thêm thức ăn và được công ty xuất hóa đơn số 0001629 với số tiền chưa thanh toán là 67.690.000 đồng.

Đồng thời cùng ngày 26/11/2021 ông Hữu thanh t cho Công ty số tiền 73.750.000 đồng cho hóa đơn số 6HD0005062 ngày 29/02/2020. Tiền lãi chậm trả đối với số tiền 73.750.000 đồng thanh toán cho hóa đơn này tính từ ngày 29/4/2021 đến ngày 26/11/2021 là 14.871.929 đồng, chưa thanh toán.

Tồng tiền lãi chậm trả mà ông H1 còn nợ đối với các hóa đơn đã thanh toán vào ngày 22/10/2021 và ngày 26/11/2021 là 553.385.688 đồng.

Như vậy, tính đến ngày 31/01/2023 ông Nguyễn Văn H1 còn nợ Công ty số tiền 18 hóa đơn số tiền gốc là 2.206.240.604 đồng.

Tuy nhiên, đến nay ông Nguyễn Văn H1 không thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận. Khoản tiền nợ đã quá thời hạn thanh toán nhưng ông H1 vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Tiền lãi phát sinh đối với 18 hóa đơn chưa thanh toán của ông Nguyễn Văn Hữu t1 đến ngày 31/01/2023, mức lãi suất 1%/tháng là 457.781.701 đồng.

Nay Công ty TNHH P yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho giải quyết.

Yêu cầu ông Nguyễn Văn Hữu thanh t2 khoản nợ cho Công ty TNHH P với số tiền nợ gốc là 2.206.240.604 đồng.

Yêu cầu ông Nguyễn Văn H1 trả lãi đối với khoản nợ gốc tính đến ngày 26/01/2024 với số tiền là 1.275.916.262 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi đến khi giải quyết xong. (Trong đó: Tiền nợ lãi chậm trả đối với các hóa đơn từ ngày 22/11/2019 đến ngày 29/02/2020) mà ông H1 đã thanh toán cho Công ty vào ngày 22/10/2021 là 538.513.759 đồng (đã ký đối chiếu công nợ); Ngày 26/11/2021 ông Hữu thanh t2 cho Công ty số tiền 73.750.000 đồng cho hóa đơn số 6HD0005062 ngày 29/02/2020. Tiền lãi chậm trả đối với số tiền 73.750.000 đồng thanh toán cho hóa đơn này tính từ ngày 29/4/2020 đến ngày 26/11/2021 là 14.871.929 đồng, chưa thanh toán; Tổng tiền lãi chậm trả mà ông H1 còn nợ đối với các hóa đơn đã thanh toán vào ngày 22/10/2021 và ngày 26/11/2021 là 553.385.688 đồng (Có bao gồm số tiền lãi 14.871.929 đồng). Tiền lãi phát sinh đối với 18 hóa đơn chưa thanh toán của ông Nguyễn Văn Hữu t1 từ ngày xuất hóa đơn + 60 ngày đến ngày 31/01/2023, mức lãi suất 1%/tháng là 457.781.701 đồng; Và lãi phát sinh sau ngày 31/01/2023 đến ngày 26/01/2024)

Tổng số vốn và lãi ông Nguyễn Văn Hữu thanh t2 cho Công ty TNHH P đến ngày 26/01/2024 là 3.482.156.866 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi đến khi ông Hữu thanh t2 xong tiền nợ.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn H1 đã được toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và thông báo kết quả hòa giải và công khai chứng cứ nhưng vẫn không có ý kiến gì và không có mặt để dự phiên toà mà không có lý do.

* Tại phiên tòa:

Đại diện nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Văn H1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc 2.206.240.604 đồng; Về số tiền lãi ....

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử và các đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử chuẩn bị nghị án đều đúng theo trình tự do Bộ luật tố tụng quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát cho rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu ông Nguyễn Văn H1 có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền tổng cộng là

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi thẩm tra xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nghe lời trình bày và phát biểu của đương sự, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Công ty TNHH P căn cứ vào hợp đồng mua bán hàng hóa, và các chứng cứ liên quan, để khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn H1 có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền vốn và tiền lãi mà ông H1 đã mua thức ăn còn thiếu, đây là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa được quy định tại Điều 24 Luật thương mại. Bị đơn cư trú tại thành phố M, tỉnh Tiền Giang, theo quy định tại khoản 1 điều 30, khoản 1 điều 35, điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không có mặt để dự phiên tòa. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2.2]Chứng cứ chứng minh:

Tòa án thụ lý vụ án đã thực hiện tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho ông H1, trong các văn bản của Tòa án nói rõ yêu cầu cầu khởi kiện của Công ty TNHH P. Nhưng từ khi Toà án thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, phía ông H1 không có ý kiến trình bày, cũng như ý kiến phản đối nào đối với chữ ký của mình tại các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và không phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nên theo khoản 1 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 94 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày của nguyên đơn làm căn cứ giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung: Công ty TNHH P, yêu cầu ông Nguyễn Văn Hữu thanh t2 khoản nợ cho Công ty TNHH P với số tiền nợ gốc là 2.206.240.604 đồng. Yêu cầu ông Nguyễn Văn H1 trả lãi đối với khoản nợ gốc chậm thanh toán và chưa thanh toán, tính đến ngày xét xử với số tiền là 1.275.916.262 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi đến khi giải quyết xong.

[2.1] Căn cứ vào các chứng cứ nguyên đơn cung cấp bao gồm: Hợp đồng mua bán số 00029/HD-PIL2020 ngày 16/10/2019 và Hợp đồng mua bán số HD-PILF/0094 ngày 02/01/2021, báo cáo công nợ khách hàng từ ngày 01/5/2021 đến ngày 31/10/2021, căn cứ vào chi tiết công nợ khách hàng ngày 31/10/2021, phụ lục hợp đồng ngày 16/10/2019, các văn bản trên được ký kết giữa Công ty TNHH P1 với khách hàng Nguyễn Văn H1; Căn cứ vào các hóa đơn giá trị gia tăng (Từ năm 2019 đến năm 2021) và phiếu xuất kho của Công ty TNHH P1. Thể hiện, từ thời điểm ngày 22/11/2019 đến ngày 26/11/2021 ông Nguyễn Văn H1 có mua các mặt hàng thức ăn cá của Công ty TNHH P1. Đến ngày 31/10/2021 thì hai bên tiến hành đối chiếu công nợ, ông Nguyễn Văn H1 ký xác nhận nợ với Công ty P1 số tiền 2.750.814.363 đồng. Bao gồm: Tiền nợ gốc của các hóa đơn chưa thanh toán là 2.212.300.604 đồng, tiền nợ lãi chậm trả đối với các hóa đơn từ ngày 22/11/2019 đến ngày 29/02/2020 mà ông H1 đã thanh toán cho Công ty vào ngày 22/10/2021, là 538.513.759 đồng. Sau khi ký xác nhận nợ thì ông H1 có mua thêm thức ăn và có trả nợ thức ăn cũ cho Công ty TNHH P1.

[2.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Nguyễn Văn H1 trả số tiền nợ gốc mua thức ăn là 2.206.240.604 đồng. Hội đồng xét xử cho rằng yêu cầu trên là căn cứ, bởi lẽ, ngày 31/10/2021 ông Nguyễn Văn H1 đã ký văn bản đối chiếu công nợ, xác nhận nợ với Công ty P1 và thừa nhận có nợ số tiền nợ gốc của 17 hóa đơn chưa thanh toán là 2.212.300.604 đồng, (trong đó có hóa đơn ngày 29/02/2020, tổng số tiền của hóa đơn này là 170.540.000 đồng. Ngày 20/10/2021 ông H1 có thanh toán cho Công ty số tiền là 74.913.146 đồng). Đến ngày 26/11/2021 ông Nguyễn Văn H1 mua thêm thức ăn và được công ty xuất hóa đơn số 0001629 với số tiền chưa thanh toán là 67.690.000 đồng. Phía plimico thừa nhận, cùng ngày 26/11/2021 ông Hữu thanh t2 cho Công ty P1 số tiền 73.750.000 đồng cho hóa đơn số 6HD0005062 ngày 29/02/2020. Như vậy, do phát sinh giao dịch mua bán mới và thanh toán nợ cũ nên đến ngày 26/11/2021 sau ngày đối chiếu công nợ thì ông H1 còn nợ số tiền gốc mua thức ăn với số tiền là (2.212.300.604 đồng + 67.690.000 đồng - 73.750.000 đồng = 2.206.240.604 đồng). Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH P đối với yêu cầu buộc ông H1 trả cho nguyên đơn số tiền mua thức ăn là 2.206.240.604 đồng.

[2.3] Đối với yêu cầu tính tiền lãi do chậm thanh toán. Căn cứ mục 1.2 và 1.3 Điều 1 tại phụ lục hợp đồng ngày 16/10/2019 có quy định: Thời hạn thanh toán “Bên mua sẽ thanh toán cho bên bán trong vòng 60 ngày kể từ ngày xuất hóa đơn bán hàng, nếu tới thời hạn thanh toán mà bên mua vẫn không thanh toán thì bên bán có quyền tính lãi đối với các hóa đơn chưa thanh toán”. Lãi suất quá hạn “ Bên bán sẽ tính lãi suất các hóa đơn quá hạn cho bên mua với lãi suất được áp dụng 1%/tháng".

[2.3.1] Về số tiền lãi chậm thanh toán của số tiền thức ăn đã trả. Đối chiếu với các hóa đơn giá trị gia tăng, chi tiết công nợ khách hàng ngày 31/10/2021 có xác nhận của ông Nguyễn Văn H1, thể hiện: Đối với số tiền nợ thức ăn của 16 hóa đơn có ngày xuất hóa đơn từ ngày 22/11/2019 đến 29/02/2020, vào ngày 22/10/2021 phía ông H1 đã trả đủ tiền theo từng hóa đơn, riêng hóa đơn ngày 29/02/2020, tổng số tiền của hóa đơn này là 170.540.000 đồng. Ngày 20/10/2021 ông H1 chỉ thanh toán cho Công ty số tiền là 74.913.146 đồng. Phía công ty TNHH P tính lãi suất chậm thanh toán là 1%/tháng, thời hạn tính lãi suất bắt đầu từ ngày số 61 kể từ ngày xuất hóa đơn cho đến ngày trả nợ là 22/10/2021, với số tiền lãi chậm thanh toán với số tiền 538.513.759 đồng. Đến ngày 26/11/2021 ông Hữu thanh t2 cho Công ty P1 số tiền 73.750.000 đồng cho hóa đơn số 6HD0005062 ngày 29/02/2020, lãi suất chậm thanh toán được tính từ ngày số 61 kể từ ngày xuất hóa đơn cho đến ngày trả nợ 26/11/2021 với số tiền là tiền lãi 14.871.929 đồng. Nay, phía công ty TNHH P yêu cầu ông Nguyễn Văn H1 trả tiền lãi suất chậm thanh toán đối với các khoản nợ đã trả, đến 26/11/2021 tổng cộng là 553.385.688 đồng. Căn cứ vào các chứng cứ trên cho thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Văn H1 trả số tiền lãi suất chậm thanh toán đối với các khoản nợ đã trả với số tiền 553.385.688 đồng.

[2.3.2] Về số tiền lãi của số tiền thức ăn chưa trả. Đối chiếu với các hóa đơn giá trị gia tăng, chi tiết công nợ khách hàng ngày 31/10/2021 có xác nhận của ông Nguyễn Văn H1, thể hiện đến ngày 31/10/2021 ông Nguyễn Văn H1 còn nợ công ty TNHH P tiền thức ăn chưa trả qua 17 hóa đơn từ ngày 29/02/2020 đến ngày 09/6/2021. Đến ngày 26/11/2021 ông Nguyễn Văn H1 mua thêm thức ăn và được công ty xuất hóa đơn số 0001629 với số tiền chưa thanh toán là 67.690.000 đồng. Nay Phía công ty TNHH P tính lãi suất chậm thanh toán là 1%/tháng, thời hạn tính lãi suất bắt đầu từ ngày số 61 kể từ ngày xuất hóa đơn cho đến ngày xét xử, trên tổng cộng 18 hóa đơn giá trị gia tăng với số tiền lãi chậm thanh toán với số tiền ......Do yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Văn H1 trả số tiền lãi suất chậm thanh toán đối với các khoản nợ chưa trả với số t là phù hợp với qui định tại hợp đồng đã ký kết và Điều 306 Luật Thương mại.

Do đó, cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Quan điểm và đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Ông Nguyễn Văn H1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo qui định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 50, Điều 300, 301, 306, 307 Luật Thương mại;

Căn cứ vào các Điều 30, 35, 39, 92, 147, 189, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử: 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH P.

Buộc ông Nguyễn Văn H1 có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH P, số tiền đồng (Bốn tỷ năm trăm sáu mươi bốn triệu bốn trăm hai mươi bốn ngàn hai trăm bốn mươi đồng).

2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn H1 phải chịu án phí

Hoàn trả cho Công ty TNHH P2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000196 ngày 29/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Văn H1 không trả khoản tiền trên thì ông Nguyễn Văn H1 còn phải trả cho nguyên đơn tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn Công ty TNHH H2 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Mỹ Tho;
  • - Chi cục THADS TP Mỹ Tho;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Sắc Ly

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/DS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng mua bán

  • Số bản án: 59/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng mua bán
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán giữa Công ty TNHH P và Nguyễn Văn H1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger