|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2025/HSST Ngày 13/6/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Mừng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Minh Côn; ông Chu Hồng Thái
Thư ký phiên tòa: Ông Ma Đình Dũng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Bùi Ngọc Mai - Kiểm sát viên
Trong ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử hình sự Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2025/TLHS-ST, ngày 22/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2025/QĐXXST-HS, ngày 30/5/2025 đối với:
Bị cáo: Họ và tên: Nguyễn Văn N, sinh ngày: 15/3/1978;
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm L, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 03/12. Đoàn thể, Đảng phái: Không; Bố: Nguyễn Văn N1 (đã chết). Mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1956. Vợ, con: chưa có.
Tiền án: Tại Bản án số 133/2022/HSST ngày 22/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn N 26 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. (chấp hành xong án phạt tù ngày 09/10/2024; chấp hành xong án phí ngày 03/4/2023; Bản án chưa được xóa án tích).
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Tại Bản án số 16 ngày 15/5/1996 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn N 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự 1985. (chấp hành xong án phí ngày 17/6/1996);
- + Tại Bản án số 56 ngày 25/7/1997 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn N 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự 1985. (chấp hành xong án phạt tù ngày 10/02/1999; miễn án phí ngày 29/6/2010);
- + Tại Bản án số 268/HSST ngày 10/11/1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Nguyễn Văn N 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự 1985. (miễn án phí ngày 29/6/2010);
- + Tại Bản án số 62/HSST ngày 25/12/2002 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn N 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999 (chấp hành xong án phí ngày 12/9/2011);
- + Tại Bản án số 47/2006/HSST ngày 30/11/2006 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn N 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999 (chấp hành xong án phí ngày 12/9/2011);
- + Tại Bản án số 216/2010/HSST ngày 18/8/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn N 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999 (Chấp hành xong ngày 03/10/2013, chấp hành xong án phí ngày 05/5/2011);
- + Tại Bản án số 48/2015/HSST ngày 23/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn N 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999 (Chấp hành xong ngày 26/7/2017, chấp hành xong án phí ngày 11/5/2022);
- + Tại Quyết định số 15/2018/QĐ-TA ngày 06/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N thời hạn 18 tháng (chấp hành xong ngày 23/01/2020);
- + Tại Quyết định số 33/2020/QĐ-TA ngày 25/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N thời hạn 18 tháng (chấp hành xong ngày 04/01/2022);
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/3/2025 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt tại phiên toà).
Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1979 (vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: TDP S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau: Khoảng 07 giờ ngày 09/3/2025, Nguyễn Văn N (là người có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích) đi bộ từ nhà tại xóm L, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xuống khu vực thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để xem nhà nào có sơ hở trong quản lý tài sản thì N sẽ trộm cắp để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi N đang đi bộ ở khu vực TDP S, thị trấn H, huyện Đ thì N thấy 01 nhà dân đang mở cổng (sau xác định là nhà của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1979, trú tại: TDP S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên). Trong sân nhà chị H đang để 01 chiếc xe đạp mini màu xanh của chị H nên N nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe đạp của nhà chị H. N đi vào sân nhà, dùng hai tay nhấc chiếc xe đạp bê ra ngoài đường. Khi N đang bê chiếc xe đạp đến cổng nhà chị H thì chị H phát hiện ra nên đã chạy đuổi theo và hô hoán. Thấy bị phát hiện, N đã để lại xe đạp rồi bỏ chạy về hướng Bệnh viện đa khoa huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi N đang đi bộ gần cổng Bệnh viện đa khoa huyện Đ thì bị Tổ công tác Công an thị trấn H yêu cầu kiểm tra và mời N về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra N đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của gia đình chị H như nêu trên.
Sau khi sự việc xảy ra, chị H đã làm đơn trình báo đến Công an thị trấn H, huyện Đ đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Công an thị trấn H, huyện Đ đã lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng gồm: 01 xe đạp mini màu xanh đã qua sử dụng, khung xe có chữ MINILA; 01 bì ký hiệu A (bên trong là 01 đoạn video thu giữ từ camera an ninh của gia đình chị Nguyễn Thị H); 01 bì niêm phong ký hiệu QA (bên trong là 01 áo khoác gió màu xanh có mũ, 01 quần nỉ màu đen, phía trước bên phải có thêu chữ GCUCI, 01 mũ lưỡi trai màu đen, 01 đôi giày thể thao màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn N). Sau đó báo cáo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 09/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã tiến hành xác định hiện trường, vẽ sơ đồ hiện trường, chụp ảnh hiện trường xác định vị trí N thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và cho chị Nguyễn Thị H nhận dạng đối tượng Nguyễn Văn N.
Ngày 19/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe đạp của gia đình chị H bị N lấy trộm. Tại Kết luận định giá tài sản số 1281/KL-HĐĐG ngày 14/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản UBND tỉnh T kết luận: Giá trị 01 chiếc xe đạp mimi màu xanh đã qua sử dụng, tại phần khung xe đạp có chữ MILINA (thời điểm định giá tháng 3/2025, giá đã bao gồm thuế giá trị gia tăng) là 500.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Lời khai nhận tội của Nguyễn Văn N phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ, Kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 xe đạp mini màu xanh đã qua sử dụng, khung xe có chữ MINILA, ngày 28/4/2025 Cơ quan điều tra Công an tỉnh T đã trả lại cho chị Nguyễn Thị H quản lý, sử dụng. 01 bì ký hiệu A (bên trong là 01 đoạn video thu giữ từ camera an ninh của gia đình chị Nguyễn Thị H); 01 bì niêm phong ký hiệu QA (bên trong là 01 áo khoác gió màu xanh có mũ, 01 quần nỉ màu đen, phía trước bên phải có thêu chữ GCUCI, 01 mũ lưỡi trai màu đen, 01 đôi giày thể thao màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn N); Hiện đang bảo quản tại kho vật chứng của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ.
Về trách nhiệm dân sự: chị H không yêu cầu N bồi thường về dân sự.
Cáo trạng số 61/CT-VKSĐT, ngày 21/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể như sau:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 15 đến 18 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng vụ án: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 bì niêm phong ký hiệu QA (bên trong là 01 áo khoác gió màu xanh có mũ, 01 quần nỉ màu đen, phía trước bên phải có thêu chữ GCUCI, 01 mũ lưỡi trai màu đen, 01 đôi giày thể thao màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn N).
- - Cần lưu theo hồ sơ 01 bì ký hiệu A (bên trong là 01 đoạn video thu giữ từ camera an ninh của gia đình chị Nguyễn Thị H);
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận: Bị cáo thừa nhận việc truy tố xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
[2]. Về căn cứ buộc tội: Theo kết quả điều tra và tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 09/3/2025, tại nhà của chị Nguyễn Thị H thuộc TDP S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn N đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe đạp của gia đình chị H có giá trị là 500.000 đồng thì bị phát hiện, thu giữ vật chứng. Hiện tài sản đã được trả lại cho chị H quản lý sử dụng.
Bị cáo đã có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 133/2022/HSST ngày 22/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (bản án chưa được xoá án tích). Nay bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tài sản giá trị 500.000 đồng. Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, nội dung Điều luật quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
b) Đã bị kết án về tội này ... chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
[3]. Xét tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo là ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, trong vụ án này là quyền sở hữu tài sản của chị Nguyễn Thị H. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần có mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án thì thấy:
Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là "Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại" và “Thành khẩn khai báo ăn năn hối cải” quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị Toà án xét xử nhiều lần về các tội Trộm cắp tài sản, Tàng trữ trái phép chất ma tuý và đã bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhưng bị cáo không biết lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện cho bản thân mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội thể hiện lỗi cố ý trực tiếp và thể hiện thái độ coi thường pháp luật.
[5]. Về mức hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án từ 15 đến 18 tháng tù và buộc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có điều kiện cải tạo giáo dục bị các trở thành công dân có ích cho xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6]. Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy bị cáo không có tài sản hay thu nhập gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng của vụ án:
- - 01 bì niêm phong ký hiệu QA (bên trong là 01 áo khoác gió màu xanh có mũ, 01 quần nỉ màu đen, phía trước bên phải có thêu chữ GCUCI, 01 mũ lưỡi trai màu đen, 01 đôi giày thể thao màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn N). Là đồ vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- - 01 bì ký hiệu A (bên trong là 01 đoạn video thu giữ từ camera an ninh của gia đình chị Nguyễn Thị H) cần lưu theo hồ sơ vụ án.
[10]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
[11]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 10/3/2025.
- Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
- Về vật chứng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 bì niêm phong ký hiệu QA (bên trong là 01 áo khoác gió màu xanh có mũ, 01 quần nỉ màu đen, phía trước bên phải có thêu chữ GCUCI, 01 mũ lưỡi trai màu đen, 01 đôi giày thể thao màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn N).
- - Lưu theo hồ sơ 01 bì ký hiệu A (bên trong là 01 đoạn video thu giữ từ camera an ninh của gia đình chị Nguyễn Thị H);
- (Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/5/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T với Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Mừng |
Bản án số 59/2025/HSST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 59/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
