Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HSST

Ngày: 10/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy

Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Võ Thanh Nga
  • Bà Đinh Kim Hoàng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Quế Anh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Sinh – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2025/TLST – HS ngày 23 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2025/QĐXXST – HS ngày 29 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn K (tên gọi khác: Xác M), sinh ngày 08 tháng 3 năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số G T, Phường A, Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh; học vấn: 02/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không rõ và bà Lê Thị Ngọc T, sinh năm 1966; vợ, con: Chưa có; tiền án: Ngày 26/11/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 02 (hai) năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, (chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/7/2022). Ngày 03/02/2023, bị Tòa án nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, (chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/11/2024); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/3/2013, bị Tòa án nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 09 (chín) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, (chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/8/2013, đã thi hành xong phần trách nhiệm dân sự, án phí và bồi thường thiệt hại). Ngày 13/11/2013, bị Tòa án nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 01 (một) năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, (chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/10/2014, đã thi hành xong phần trách nhiệm dân sự, án phí). Ngày 12/5/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 01 (một) năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2016, đã thi hành xong phần trách nhiệm dân sự (án phí). Ngày 08/7/2009, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận D – Thành phố Hồ Chí Minh, ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào Trường G (mười tám) tháng, chấp hành xong vào ngày 30/10/2010. Ngày 27/6/2016, bị Tòa án nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh, ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 (hai mươi bốn) tháng, chấp hành xong vào ngày 06/4/2018. Ngày 26/10/2018, bị Tòa án nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh, ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 (mười tám) tháng, chấp hành xong vào ngày 12/3/2020. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/12/2024. “Có mặt”.

Những người tham gia tố tụng:

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1952. Địa chỉ: Số B Đ, Phường A (nay là Phường A), Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh. “Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 17/12/2024, Nguyễn Văn K đi bộ từ nhà số G T, Phường A, Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh đến các hẻm trên địa bàn Phường A (nay là Phường A), Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến trước nhà số B Đ, Phường A (nay là Phường A), Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện cổng chính và cánh cửa bên trong nhà đang mở. K đứng ngoài nhìn vào bên trong nhà thì thấy có 04 (bốn) xe mô tô nên K lén lút đi vào trong nhà thì thấy bà Nguyễn Thị Đ nằm ngủ trên giường ở sát tường bên trái của nhà, ở gần phần chân của bà Đ có 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A60, màu xanh để trên ghế nhựa nên K đi đến lấy trộm điện thoại cất vào trong túi quần đùi thun màu xám bên trái của K đang mặc. K tiếp tục đi ra phía sau nhà thì phát hiện ở sát tường bên trái có 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO 1820, màu xanh – đen đang sạc pin bằng cục sạc Vivo màu trắng để trên 01 (một) hộp giấy cứng, K dùng tay trái rút dây sạc pin điện thoại ra, tay phải K lấy điện thoại VIVO 1820, màu xanh – đen bỏ vào trong túi quần bên phải còn tay trái lấy cục sạc pin trên bỏ vào trong túi quần bên trái. Sau khi lấy trộm được 02 (hai) điện thoại và 01 (một) cục sạc, K đi bộ về nhà cất giấu tài sản vừa trộm được rồi K đi ngủ.

Đến khoảng 05 giờ 30 phút ngày 17/12/2024, bà Đ thức dậy thì phát hiện bị mất trộm 02 (hai) điện thoại di động, 01 (một) cục sạc pin điện thoại nên bà Đ đến Công an P (nay là Phường A), Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh trình báo vụ việc. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, Công an P (nay là Phường A), Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh mời Nguyễn Văn K về trụ sở Công an để làm rõ vụ việc trên.

Tại Cơ quan Công an, Nguyễn Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên, đồng thời tự nguyện giao nộp 01 (một) điện thoại di động OPPO A60 màu xanh và 01 (một) điện thoại di động VIVO kiểu máy 1820, màu xanh đen. Khám xét nơi ở của Nguyễn Văn K tại số G T, Phường A, Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh, thu giữ được 01 (một) cục sạc điện thoại, màu trắng, hiệu Vivo trong phòng ngủ lầu một.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 86/KL – HĐĐGTS ngày 18/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự Quận D, kết luận: 01 (một) điện thoại di động OPPO A60 kiểu máy CPH12631, màu xanh, dung lượng 128GB, đã qua sử dụng, có trị giá: 2.200.000 (hai triệu, hai trăm nghìn) đồng; 01 (một) điện thoại di động VIVO kiểu máy 1820, màu xanh đen, dung lượng 32GB, đã qua sử dụng, có trị giá: 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 3095/KL – HĐĐGTS ngày 22/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng Hình sự cấp Thành phố, kết luận: 01 (một) cục sạc pin điện thoại hiệu VIVO, màu trắng, đã qua sử dụng, có trị giá: 120.000 (một trăm hai mươi nghìn) đồng.

Về khoản bồi thường trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Đ đã được nhận lại tài sản là 02 (hai) chiếc điện thoại và 01 (một) cục sạc nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Vật chứng của vụ án:

(1). 02 (hai) đĩa DVD, bên trong chứa dữ liệu Camera ghi nhận vụ việc Nguyễn Văn K đi vào trong nhà số B Đ, Phường A (nay là Phường A), Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện hành vi lấy trộm tài sản, đã được niêm phong, (lưu kèm theo hồ sơ vụ án).

(2). 01 (một) gói niêm phong bên trong có: 01(một) áo thun cổ tròn ngắn tay màu đen, phía trước có in hình bông hoa trước ngực áo; 01(một) quần sọt thun màu xám; 01 (một) đôi dép màu đen có quai sọc đen trắng, tất cả đã qua sử dụng: Đây là trang phục do Nguyễn Văn K mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

Tại Cáo trạng số: 84/CT – VKS ngày 21/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng truy tố.

Bị hại Nguyễn Thị Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì quá trình điều tra bị hại đã nhận lại tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt nên không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, bị hại cũng không có yêu cầu nào khác đối với bị cáo, do đó bị hại xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 03 (ba) đến 04 (bốn) năm tù.

Đề nghị miễn hình phạt bổ sung do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, tài sản bị chiếm đoạt đã trả lại cho bị hại; về khoản bồi thường dân sự không có gì giải quyết; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn K không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai những người làm chứng, Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá trong Tố tụng Hình sự, cùng các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 17/12/2024 tại nhà số B Đ, Phường A (nay là Phường A), Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Văn K đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động OPPO A60, màu xanh; 01 (một) điện thoại di động VIVO 1820, màu xanh đen; 01 (một) cục sạc pin điện thoại hiệu VIVO, màu trắng của bị hại Nguyễn Thị Đ. Tổng trị giá tài sản mà bị cáo chiếm đoạt được của bị hại là 3.020.000 (ba triệu, không trăm hai mươi nghìn) đồng. Bị cáo Nguyễn Văn K vừa mới chấp hành xong hình phạt tù của bản án thuộc trường hợp “Tái phạm”, bị cáo chưa được xóa án tích nhưng nay lại tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” như đã nêu trên nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh đối với hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn K là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo Nguyễn Văn K là thanh niên đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi Trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, vì động cơ, mục đích muốn có tiền tiêu xài cho bản thân nên bị cáo cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếpxâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương.

Xét, về nhân thân bị cáo Nguyễn Văn K có 02 (hai) tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 25/11/2024, chưa được xóa án tích, nhưng nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội; bị cáo K có nhân thân rất xấu liên quan đến hành vi “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong án phạt tù vào năm 2013, năm 2014 và năm 2016; bị cáo K từng bị đưa đi Trường G với thời hạn 18 (mười tám) tháng và 02 (hai) lần bị đưa đi cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 (mười tám) tháng và 24 (hai mươi bốn) tháng, bị cáo K chấp hành xong quyết định cai nghiện vào năm 2020. Với nhân thân lại lịch của bị cáo rất xấu như đã nêu nhưng bị cáo không biết thay đổi bản thân để trở thành người tốt có ích cho xã hội mà lại tiếp tục đi vào con đường phạm tội, điều đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo rất kém, bị cáo đã xem thường trật tự kỷ cương và pháp luật của nhà nước, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án thật nghiêm khắc để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và đáp ứng được nhu cầu phòng ngừa chung cho xã hội và giáo dục riêng đối với bị cáo. Xét, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải sau khi thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Xét, bị cáo Nguyễn Văn K có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về bồi thường trách nhiệm dân sự: Do bị hại Nguyễn Thị Đ đã nhận lại tài sản mà bị cáo chiếm đoạt nên bị hại không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm cũng như không có yêu cầu nào khác đối với bị cáo nên không có gì để xem xét giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng:

(1). 02 (hai) đĩa DVD, bên trong chứa dữ liệu Camera ghi nhận vụ việc bị cáo Nguyễn Văn K đi vào trong nhà số B Đ, Phường A (nay là Phường A), Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của bà Nguyễn Thị Đ, đã được niêm phong (lưu kèm theo hồ sơ vụ án). Xét, đây là vật chứng quan trọng của vụ án nên tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

(2). 01 (một) gói niêm phong bên trong có: 01(một) áo thun cổ tròn ngắn tay màu đen, phía trước có in hình bông hoa trước ngực áo; 01(một) quần sọt thun màu xám; 01 (một) đôi dép màu đen có quai sọc đen trắng, tất cả đã qua sử dụng: Đây là trang phục do Nguyễn Văn K mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Xét, đây là tài sản cá nhân nên giao trả lại cho Nguyễn Văn K, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo đã từ chối nhận lại, do trang phục cũ đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

[6] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
  • Xử phạt: Nguyễn Văn K (tên gọi khác: Xác Ma) 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 12 năm 2024.
  • Tiếp tục giam bị cáo để bảo đảm thi hành án, thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
  • - Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
  • + Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án: 02 (hai) đĩa DVD, bên trong chứa dữ liệu Camera ghi nhận vụ việc bị cáo Nguyễn Văn K đi vào trong nhà số B Đ, Phường A (nay là Phường A), Quận D -Thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện hành vi lấy trộm tài sản.
  • + Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bên trong có: 01(một) áo thun cổ tròn ngắn tay màu đen, phía trước có in hình bông hoa trước ngực áo; 01(một) quần sọt thun màu xám; 01 (một) đôi dép màu đen có quai sọc đen trắng, tất cả đã qua sử dụng.
  • (Theo biên bản giao, nhận vật chứng số: 90/2025 ngày 03 tháng 6 năm 2025 giữa Cơ quan Công an Quận 4 và Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh).
  • - Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án:
  • + Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
  • - Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
  • + Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; (1)
  • - Bị hại; (1)
  • - CA TP. HCM ; (1)
  • (1)
  • - TAND TP. HCM; (1)
  • - Sở Tư pháp TP. HCM; (1)
  • - VKSND TP. HCM; (1)
  • - VKSND Quận 4; (1)
  • - Trại tạm giam Chí Hòa (PC11A); (1)
  • - Trại tạm giam Chí Hòa – Phân trại tạm giam khu vực Quận 4; (1)
  • - Chi cục THADS Quận 4; (3)
  • - Chi cục THAHS Quận 4; (2)
  • - Lưu VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phương Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HSST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 59/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN VĂN K - TRỘM CẮP TÀI SẢN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger