Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HS-ST

Ngày: 27 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quang Huy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Từ Hồng Hải

Bà Huỳnh Thị Minh

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Tiến Quốc - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thanh Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, xét xử sơ công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn Văn N; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh ngày 11 tháng 4 năm 1992 tại: Nam Định; Nơi thường trú: TDP T, Q, G, Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Nguyễn Văn T (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị N1, sinh năm: 1960; Gia đình có 04 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1999, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ con: chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Bản án số 226/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 của Toà án nhân dân Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn Văn N 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/8/1018. Bị cáo đã chấp hành xong bản án.
  • + Ngày 24/5/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị cáo đối với Nguyễn Văn N về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Ngày 24/9/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ban hành Quyết định truy nã đối với Nguyễn Văn N về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp ngày 25/9/2024, hiện nay đang bị tạm giam tại Trại trại tạm giam Công an tỉnh L - phân trại Đ.

  • - Bị hại: Công ty TNHH Đ. Địa chỉ: E C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trần Công D, sinh năm 1989. Địa chỉ: E T, phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đinh Thị L, sinh năm 1982. Địa chỉ: Hẻm C N, phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Nhất là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định. Do cần tiền để tiêu xài và sử dụng ma túy, N đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản là dây điện tại khu vực Trung tâm hành chính thành phố Đ, địa chỉ: B T, phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (hệ thống điện và cáp thuộc sự quản lý của Công ty TNHH Đ) để đốt vỏ nhựa lấy lõi đồng bán để có tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, Nhất chuẩn bị 01 kìm cắt bằng kim loại, màu cam, dài khoảng 20cm để làm công cụ cắt trộm dây điện và đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Lần 1: Vào khoảng 21 giờ ngày 15/9/2024, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, không rõ biển kiểm soát đến cổng Trung tâm hành chính thành phố Đ để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, N trèo qua cổng, sử dụng kìm cắt kim loại đã chuẩn bị từ trước, cắt 02 lộ cáp và một số sợi dây điện từ vị trí trạm điện MSSB đến vị trí hố ga ngay gần cổng Trung tâm hành chính thành phố Đ và chiếm đoạt được: 04 sợi dây điện hiệu CADIVI-CV/FR 16, vỏ nhựa màu cam, bên trong có 07 lõi đồng, mỗi sợi dài 22 mét; 01 sợi dây điện hiệu CADIVI-CV16, vỏ nhựa màu xanh, bên trong có 07 lõi đồng, chiều dài 22 mét; 04 sợi dây điện hiệu CADIVI-CXV 16, vỏ nhựa màu đen, bên trong có 07 lõi đồng, mỗi sợi dài 22 mét; 01 sợi dây điện hiệu CADIVI-CV 16, vỏ nhựa màu xanh, bên trong có 07 lõi đồng, chiều dài 22 mét; 01 dây điện hiệu CADIVI-CXV 35, vỏ nhựa màu đen, bên trong có 07 lõi đồng, chiều dài khoảng 12 mét; 01 sợi dây điện hiệu CADIVI-CXV 25, vỏ nhựa màu đen, bên trong có 07 lõi đồng, chiều dài 12 mét; 01 dây điện hiệu CADIVI-CXV16, vỏ nhựa màu đen, bên trong có 07 lõi đồng, chiều dài khoảng 12 mét; 01 dây điện hiệu CADIVI-CXV 10, vỏ nhựa màu đen, bên trong có 07 lõi đồng, chiều dài khoảng 28 mét; 03 sợi dây điện hiệu CADIVI-CV 16, vỏ nhựa màu xanh, bên trong có 07 lõi đồng, mỗi sợi dài 3 mét; 01 sợi dây điện hiệu CADIVI-CV 10, vỏ nhựa màu xanh, bên trong có 07 lõi đồng, chiều dài 03 mét. Sau đó, N điều khiển xe mô tô trên chở số dây điện đã chiếm đoạt được về phòng trọ tại địa chỉ: hẻm C N, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng để cất giấu. Đến sáng ngày 16/9/2024, N mang số dây điện chiếm đoạt được đến sân vận động thành phố Đ để đốt và thu được 11kg đồng. Sau đó, N bán số đồng thu được cho người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) thu mua phế liệu tại khu vực đường T, Phường F, thành phố Đ với số tiền 1.800.000 đồng. Số tiền trên N đã tiêu xài cá nhân hết.

Vật chứng thu giữ: do N đã đem bán nên không thu hồi được.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số 200/KL-HĐĐGTS ngày 25/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: Tổng giá trị tài sản còn lại tại thời điểm định giá của 18 sợi dây điện đã bị Nguyễn Văn N chiếm đoạt là 5.213.000 đồng (BL: 70-71).

Lần 2: Vào khoảng 20 giờ 00 ngày 24/9/2024, N đi bộ từ phòng trọ đến khu vực Trung tâm hành chính thành phố Đ, trèo qua cổng và sử dụng kìm cắt kim loại đã chuẩn bị từ trước cắt 03 lộ cáp màu cam từ vị trí trạm điện MSSB đến vị trí hố ga. Sau khi cắt thành công, Nhất cuộn số dây điện đã cắt vào trong áo mưa và cất giấu tại cổng Trung tâm hành chính. Sau đó, N đi bộ về phòng trọ mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Mio, biển số 86B3-63543 của chị Đinh Thị L (sinh năm: 1982; nơi thương trú: Thôn G, S, S, Quảng Ngãi; hiện ở: hẻm C N, phường H, Tp Đ, tỉnh Lâm Đồng) để chở số dây điện đã trộm cắp được. Lúc này, N nói với chị L do được chủ công trình cho số dây điện dư nên mượn xe của chị L để chở dây điện về và rủ chị L đi cùng thì chị L đồng ý. Sau đó, N điều khiển xe mô tô chở chị L đến khu vực cổng của Trung tâm hành chính thành phố Đ. Tại đây, N nói chị L đứng ngoài đợi để N đi vào trong lấy dây điện, sau đó, N mang các cuộn dây điện đã cất giấu từ trước lên xe mô tô và cùng chị L chở về phòng trọ cất giấu.

Đến khoảng 10 giờ 00 sáng ngày 25/09/2024, N mượn xe mô tô của chị L để chở dây điện đi đốt thì chị L đòi đi cùng N. N điều khiển xe mô tô chở chị L mang theo một phần dây điện đã trộm cắp được gồm: 04 sợi dây điện hiệu CADIVI-CXV 35, vỏ nhựa màu đen, bên trong có 07 sợi lõi đồng và đốt tại khu vực sân vận động thành phố Đ. Sau khi đốt xong, N và L mang số dây đồng thu được về lại phòng trọ thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật. Tại Cơ quan Công an, bị cáo Nguyễn Văn N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân phù hợp với nội dung vụ án (BL: 40-43; 93-112; 129-133; 136-144).

Vật chứng thu giữ:

  • - 05 sợi dây điện hiệu CADIVI –CV/FR 10, vỏ nhựa màu cam, bên trong có 07 sợi lõi đồng, chiều dài mỗi sợi điện 28 mét;
  • - 04 sợi dây điện hiệu CADIVI –CX 16, vỏ nhựa màu đen, bên trong có 07 sợi lõi đồng, chiều dài mỗi sợi điện 23 mét;
  • - 01 sợi dây điện CADIVI-CXV 35, vỏ nhựa màu vàng xanh, bên trong có 07 sợi lõi đồng, chiều dài 26 mét;
  • - 04 sợi dây điện hiệu CADIVI-CXV 35, vỏ nhựa màu đen, mỗi sợi dây có 07 lõi nhỏ, chiều dài mỗi sợi dây là 30 mét.

Số dây điện trên thuộc sở hữu hợp pháp của công ty TNHH Đ, do anh Trần Công D làm người đại diện. Ngày 15/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Trần Công D (BL: 79-80).

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Mio, biển kiểm soát 86B3-63543; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số: 036974, mang tên: Nguyễn Ngọc K đây là tài sản của anh Nguyễn Ngọc K (sinh năm: 1982, trú tại: Thôn B, H, H, Bình Thuận), anh K là chồng của chị Định Thị L1 và đã ly hôn năm 2023, anh K đã cho chị L1 chiếc xe mô tô trên và không thắc mắc, khiếu kiện gì về sau. Ngày 20/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô và giấy đăng ký xe cho chị Định Thị L1. (BL: 81-82)
  • - 01 kìm cắt kim loại cán màu vàng đen, có chữ ASAKI. (BL: 115)
  • * Tại bản kết luận định giá tài sản số 172/KL-HĐĐGTS ngày 01/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: Tổng giá trị tài sản còn lại tại thời điểm định giá của 14 sợi dây điện đã bị Nguyễn Văn N chiếm đoạt là 8.032.000 đồng (BL: 70-71).

Bị hại: Công ty TNHH Đ, địa chỉ: E C, Phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đại diện theo pháp luật là anh Trần Công D, sinh năm: 1989, trú tại: E T, Phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Ngày 15/12/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 14 sợi dây điện đã thu được cho Công ty TNHH Đ do anh Trần Công D làm người đại diện. Sau khi nhận lại tài sản, anh D không có yêu cầu gì khác, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm đối với số tài sản không thu hồi được (BL: 79-80; 129-133)

Tại bản Cáo trạng số 68/CT-VKSĐL-LĐ ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa hôm nay,

Bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận hành vi đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố, bị cáo không thắc mắc khiếu nại gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt vẫn giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 15 đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra để xem xét

Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo vô cùng ăn năn, hối hận đối với hành vi phạm tội do mình thực hiện, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố; Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị L mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét lời trình bày của bà L trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.

[3] Về căn cứ kết tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và cách thức thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Do cần tiền để tiêu xài và sử dụng ma túy, N đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản là dây điện tại khu vực Trung tâm hành chính thành phố Đ, địa chỉ: B T, phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng để đốt vỏ nhựa lấy lõi đồng bán. Thực hiện ý định, Nhất chuẩn bị 01 kìm cắt bằng kim loại, màu cam, dài khoảng 20cm để làm công cụ cắt trộm dây điện. Cụ thể lần thứ nhất vào ngày 15/9/2024 N trộm cắp tổng số 18 sợi dây diện trị giá 5.213.000đ, lần thứ hai vào ngày 24/9/2024 trộm cắp tổng số 14 sợi dây điện trị giá 8.032.000đ. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã trộm cắp là 13.245.000đ. Do đó, HĐXX xét thấy có đủ căn cứ tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[4] Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do lười lao động nhưng vẫn muốn có tiền để tiêu xài và để mua ma túy để sử dụng nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, lén lút trèo qua cổng và dùng kìm cắt chuẩn bị từ trước để trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội và gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Đánh giá nhân thân và áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo không lấy đó làm gương để tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân có ích mà lại tiếp tục phạm tội. Ngoài ra, ngày 24/9/2023 bị cáo còn bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai truy nã về tội Trộm cắp tài sản.

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty TNHH Đ xác nhận đã được trả lại tài sản là 14 sợi dây diện do bị cáo trộm cắp. Riêng đối với những tài sản mà bị cáo đã bán không thu hồi được, do giá trị không lớn nên bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ 01 kìm cắt kim loại cán màu đen vàng và 05 mẩu dây điện các loại thu tại hiện trường. Đây là công cụ bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  2. Về hình phạt:

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 15 (Mười lăm) tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/9/2024.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 kìm cắt kim loại cán màu đen vàng, có chữ ASAKI; 05 mẩu dây điện các loại thu tại hiện trường.

(Tất cả vật chứng có đặc điểm theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03/3/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt).

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật. (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo đối với phần có liên quan).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND thành phố Đà Lạt;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - CSĐT Công an thành phố Đà Lạt;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Lâm Đồng;
  • - Chi cục THADS thành phố Đà Lạt;
  • - Bị cáo (để thi hành);
  • - Bị hại, người có QLNVLQ;
  • - Sở tư pháp Lâm Đồng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Án văn;
  • - Hồ sơ THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Vũ Quang Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 59/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Nhất phạm tội "Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger