|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2025/HS-ST Ngày 25-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Văn Trung
- Bà Vũ Thị Khánh Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hà Giang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2025/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Tất C, sinh ngày 29 tháng 3 năm 1992; tại thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: T, xã Y, huyện G, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: Thôn C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc T và bà Trần Thị Ngọc L; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo có vợ đã ly hôn; có 01 con sinh năm 2015. Nhân thân: Tại quyết định xử phạt hành chính số 198/QĐ-XPHC ngày 19-6-2020 của Công an huyện G, thành phố Hà Nội xử phạt Phạm Tất C 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong ngày 08-01-2024. Tiền sự: không. Tiền án: Tại bản án số 23/2024/HS-ST ngày 02-02-2024 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 06-02-2025, thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 30-5-2024. Bị cáo tạm bị tạm giữ từ ngày 09-3-2025 đến ngày 11-3-2025 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ, tỉnh Thái Bình, được trích xuất - có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh Đặng Duy K, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1959; Thôn C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (có mặt).
2
* Người làm chứng:
- Bà Lương Thị T1, sinh năm 1977(vắng mặt)
- Anh Hoàng Đình H, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Đều cư trú: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ ngày 08-3-2025, Phạm Tất C điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu sơn trắng - đen - đỏ, biển kiểm soát 29X7-006.98 đi từ xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình theo đường C đến ngã 6, thị trấn H, huyện H thì thấy xe sắp hết xăng nên C nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để lấy tiền đổ xăng. C điều khiển xe đi theo đường nhỏ, ít người qua lại để quan sát, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu dân cư thôn T, xã M, huyện H, C nhìn thấy 01 chiếc xe lôi tự chế bằng kim loại (chiều dài 237cm, chiều rộng 137cm, 03 bánh bằng cao su), đã qua sử dụng, trị giá 500.000 đồng của anh Đặng Duy K, nơi cư trú thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình để ở cạnh đường. Quan sát thấy xung quanh vắng vẻ, xe không có người trông coi, C dừng xe, đi đến kéo chiếc xe lôi di chuyển được khoảng 4 - 5 mét, định buộc vào đuôi xe máy để kéo đi, thì cùng lúc anh K cùng người dân phát hiện, truy hô, bắt quả tang, đưa C cùng xe lôi, xe máy về trụ sở Công an xã M trình báo sự việc.
Bản kết luận định giá tài sản số 10 ngày 10-3-2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 chiếc xe lôi, loại xe tự chế bằng kim loại được hàn, ghép với nhau (chiều dài 237cm, chiều rộng 137cm, 03 bánh bằng cao su), đã qua sử dụng, vào thời điểm năm 2025 trị giá là 500.000 đồng.
Bản cáo trạng số 58/CT-KSHH, ngày 20-5-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phạm Tất C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Phạm Tất C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc T trình bày: Ông đề nghị HĐXX cho ông xin lại chiếc xe mô tô nêu trên mà bị cáo C đã mượn của ông.
Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà giữ quyền công tố tại phiên tòa khẳng định quan điểm truy tố đối với bị cáo Phạm Tất C như tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Tất C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1,
3
khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Tất C từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ từ ngày 09-3-2025.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo nói lời nói sau cùng đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị hại và những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra những người này đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo Phạm Tất C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra và còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Đơn trình báo và biên bản ghi lời khai của bị hại anh Đặng Duy K; Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập ngày 08-3-2025; Biên bản làm việc xác nhận hình ảnh do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập ngày 09-3-2025; Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T ngày 08-3-2025; Bản kết luận định giá tài sản số 10 ngày 10-3-2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H; Biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc T; Biên bản ghi lời khai của những người làm chứng anh Hoàng Đình H và bà Lương Thị T1 cùng các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 08-3-2025, tại đoạn đường thuộc địa phận thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình, bị cáo Phạm Tất C đã có tiền án về tội “ Trộm cắp tài sản có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe lôi tự chế bằng kim loại, đã qua sử dụng, có trị giá 500.000 đồng của anh
4
Đặng Duy K, sinh năm 1994, nơi cư trú thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Tất C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định như sau:
Điều 173: Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
...;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
...;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phạm Tất C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi trộm cắp tài sản mà bị cáo Phạm Tất C thực hiện đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân và gây ảnh hưởng đến trật tự trị an khu vực xảy ra tội phạm.
[5] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp có giá trị 500.000 đồng nhưng do thực hiện hành vi khi chưa được xóa án tích vì vậy hành vi này trộm cắp tài sản lần này của bị cáo bị khởi tố về tội trộm cắp tài sản nhưng không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận xét trên, HĐXX thấy cần phải áp dụng hình phạt tù theo quy định của khung hình phạt, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cuộc sống ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và có tính chất răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
5
[6] Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm bồi thường: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh K chiếc xe lôi tự chế, anh K không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản tiền nào khác nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[8] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ 01 căn cước, 01 giấy phép lái xe đều mang tên Phạm Tất C và 01 giấy Đăng ký mô tô mang tên Nguyễn Hữu T2 lưu tại hồ sơ vụ án và 01 mũ bảo hiểm xe máy màu trắng nhãn hiệu Honda đã qua sử dụng đây là các giấy tờ tùy thân và tài sản của bị cáo và ông T nên cần trả lại cho bị cáo và ông T.
Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 29X7-006.98 trong quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Phạm Ngọc T nên cần trả lại cho ông T là đúng quy định của pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Tất C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Tất C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 09-3-2025.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Phạm Tất C 01 căn cước, 01 giấy phép lái xe đều mang tên Phạm Tất C (lưu tại hồ sơ vụ án).
Trả lại ông Phạm Ngọc T 01 giấy Đăng ký mô tô mang tên Nguyễn Hữu T2 (lưu tại hồ sơ vụ án) và 01 mũ bảo hiểm xe máy màu trắng nhãn hiệu Honda đã qua sử dụng 01 xe mô tô đã qua sử dụng nhãn hiệu Honda, số loại WaveRSX màu sơn trắng đỏ, số khung RLHJC4324BY117150, số máy JC43E-6032742, biển kiểm soát 29X7-006.98.
01 mũ bảo hiểm và xe mô tô trên hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22-5-2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T với Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
6
dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Tất C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Tất C và ông Phạm Ngọc T có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại anh Đặng Duy K vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Bích Thủy |
Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 59/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Tất C phạm tội Trộm cắp tài sản
