Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 13 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HS-ST

Ngày 24 tháng 10 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Phan Thùy Trang

Bà Võ Thị Thanh Phương

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Trọng Tín, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân vực 13 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Thuận, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang (cơ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Phan Tuấn K, sinh ngày 03/02/2002; nơi cư trú: Ấp B, xã B, tỉnh An Giang; CCCD số [...]; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Phật Giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Phan Thị Ngọc G; bị cáo có vợ là Lê Thị H, có con là Phan Thị Mộng N, sinh năm 2023.

- Tiền án: không.

- Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực C từ ngày 23/7/2025 cho đến nay (có mặt).

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 2003; nơi cư trú: Số B, lô 3 khu dân cư, ấp B, xã B, tỉnh An Giang. (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt đề ngày 14/10/2025)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bà Phan Thị Ngọc S1, sinh năm 1979; nơi cư trú: Số A, tổ D, ấp B, xã B, tỉnh An Giang ( Vắng mặt).

- Bà Lê Thị H, sinh năm 2003; nơi cư trú: Ấp B, xã B, tỉnh An Giang (Có mặt).

- Người làm chứng: Bà Hứa Thuận K1, bà Lữ Tú L và ông Nguyễn Văn H1 đồng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài cá nhân, Phan Tuấn K, sinh ngày 03/02/2002, nơi cư trú ấp B, xã B, tỉnh An Giang nảy sinh ý định tìm tài sản của người khác để trộm bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 20 giở 00 phút ngày 08/5/2025, Phan Tuấn K đột nhập vào nhà Nguyễn Thị Minh T, nơi cư trú ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã B, tỉnh An Giang) thì phát hiện nhà chị Nguyễn Thị Minh T đóng cửa nhưng không người trông giữ nên K đi đến cửa sổ phía sau nhà bếp tháo một bên cửa (loại cửa đẩy qua lại) rồi đưa tay vào mở chốt cửa nhà bếp đi vào nhà lấy trộm 01 bộ lư bằng kim loại màu vàng gồm: 01 cái lư trên đỉnh có một con lân, hai bên có treo 01 bộ trái khê và 01 cái đế để lư; 02 chân đèn; 03 ly đựng nước; 01 đế để lý; 01 cái lư hương; 01 cái đĩa đựng lư hương bên dưới có dòng chưa “DAPHA”, xong K để bộ lư vào bao rồi đem về nhà cất giấu. Đến 09 giờ ngày 09/5/2025, K đem bộ lư đi bán cho Phan Thị Ngọc S1, nơi cư trú ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã B, tỉnh An Giang) với giá 4.500.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Sau đó, bà S1 biết được bộ lư K bán cho bà S1 là do K lấy trộm Thư nên tự nguyện mang đến Công an xã B (nay là B) giao nộp. Công an xã tiến hành mời Khanh đến công an xã làm việc, tại đây K thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Ngày 18/7/2025, K bị khởi tố để điều tra.

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 20/KL.HĐĐGTS ngày 22/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 (một) bộ lư bằng kim loại màu vàng, đã qua sử dụng bao gồm: 01 cái lư trên đỉnh có một con lân, hai bên có treo 01 bộ trái khế và 01 cái đế để lư; 02 chân đèn; 03 ly đựng nước; 01 đế để ly; 01 cái lư hương; 01 cái đĩa đựng lư hương, trị giá 6.200.000 đồng (Bút lục số: 58-60).

Lời khai của người bị hại Nguyễn Thị Minh T; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phan Thị Ngọc S1, Lê Thị H; người làm chứng Hứa Thuận K1, Lữ Tú L, Lê Thị H, Nguyễn Văn H1 cùng trình bày phù hợp như nội dung vụ án (Bút lục số: 101-107;116-117; 108-113; 104; 114; 115; 118-119).

Quá trình điều tra, bị can Phan Tuấn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp nội dung vụ án; lời khai của người bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; kết luận định giá cùng các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án (Bút lục số: 80-98).

Thu giữ và xử lý vật chứng: 01 cái lư trên đỉnh có một con lân, hai bên có treo 01 bộ trái khế và 01 cái đế để lư; 02 chân đèn; 03 ly đựng nước; 01 đế để ly; 01 cái lư hương; 01 cái đĩa đựng lư hương, trị giá 6.200.000 đồng (hiện các tài sản trên đã trao trả lại cho Nguyễn Thị Minh T) (Bút lục số: 64-67).

Tại Cáo trạng số 42/CT-VKSKV13 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – An Giang đã truy tố bị cáo Phan Tuấn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự).

Tại phiên tòa,

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – An Giang phát biểu luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Cáo trạng đã nêu. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Áp dụng Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Tuấn K từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 23/7/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  • + Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Minh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Phan Thị Ngọc S1 không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên đề nghị không xem xét.
  • + Về xử lý vật chứng: Xác nhận tại Công an xã B đã trả 01 (một) bộ lư bằng kim loại màu vàng đã qua sử dụng bao gồm: 01 (một) cái lư trên đỉnh có 01 con lân, hai bên có treo 01 bộ trái khế; 01 (một) cái đế để lư; 02 (hai) chân đèn; 03 (ba) ly đựng nước cúng; 01 (một) đế để ly; 01 (một) cái lư hương cấm nhang; 01 (một) cái dĩa đựng lư hương cho bà Nguyễn Thị Minh T theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 08/7/2025 nên đề nghị không giải quyết.

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, hối hận về hành vi mình đã thực hiện, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lê Thị H trình bày như nội dung vụ án, không có yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên: Thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.

[1.2] Về thẩm quyền: Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị dưới 50 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; hành vi được thực hiện tại xã B, tỉnh An Giang. Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 13 – An Giang xét xử vụ án là đúng thẩm quyền theo quy tại Điều 268 và Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự.

[1.3] Đối với người tham gia tố tụng: Người bị hại Nguyễn Thị Minh T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Ngọc S1; người làm chứng trong vụ án vắng mặt đã có lời khai ở Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo trong giai đoạn điều tra, nên việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố về thời gian, địa điểm và diễn biến về hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Ngoài ra, lời khai nhận của bị cáo còn phù hợp với lời khai của bị hại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra và được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 08/5/2025, tại nhà của bà Nguyễn Thị Minh T thuộc ấp B, xã B, tỉnh An Giang, Phan Tuấn K do không có tiền tiêu xài cá nhân nên nảy sinh ý định tìm tài sản của người khác để trộm bán lấy tiền tiêu xài, K lợi dụng lúc nhà bà Nguyễn Thị Minh T đóng cửa, không có người trông coi, lén tháo cửa sổ nhà bếp, đột nhập vào bên trong và lấy trộm một bộ lư bằng kim loại màu vàng cùng các vật dụng đi kèm, trị giá 6.200.000 đồng. Sau khi mang về nhà cất giấu, đến sáng hôm sau K đem bán cho bà Phan Thị Ngọc S1 với giá 4.500.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Khi biết tài sản do trộm cắp mà có, bà S1 đã tự nguyện giao nộp lại cho công an và toàn bộ vật chứng được trả lại cho bà Nguyễn Thị Minh T.

Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Phan Tuấn K đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an của địa phương. Do đó, cáo trạng 42/CT-VKSKV13 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – An Giang truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2.2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo Phan Tuấn K là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã lợi dụng đêm khuya, trời tối để lén lút đột nhập vào nhà người khác nhằm tránh sự phát hiện của mọi người xung quanh và cơ quan chức năng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại bà Nguyễn Thị Minh T, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án, gây tư tưởng hoang mang trong nhân dân. Nhằm mục đích muốn có tiền tiêu xài, phục vụ cho lợi ích cá nhân, ý thức lười lao động nhưng lại thích hưởng thụ bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Do đó, bị cáo K phải chấp hành mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, mới đủ tính răn đe, thuyết phục, giáo dục bị cáo, đồng thời tuyên truyền và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trình độ học vấn thấp nên phần nào nhận tức pháp lực cũng hạn chế; thuộc thành phần nhân dân lao động. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[2.3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[2.4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Minh T đã nhận lại được tài sản bị trộm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Ngọc S1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.5] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 (một) bộ lư bằng kim loại màu vàng đã qua sử dụng bao gồm: 01 (một) cái lư trên đỉnh có 01 con lân, hai bên có treo 01 bộ trái khế; 01 (một) cái đế để lư; 02 (hai) chân đèn; 03 (ba) ly đựng nước cúng; 01 (một) đế để ly; 01 (một) cái lư hương cấm nhang; 01 (một) cái dĩa đựng lư hương và xử lý trả cho bị hại xong, đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.6] Đối với việc Phan Tuấn K lấy chìa khoá tại nhà của Nguyễn Thị Minh T dùng để cại cửa tủ lấy trộm tài sản do chìa khoá này là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội, sau khi lấy trộm tài sản K đã ném bỏ chưa tìm lại được và chìa khoá không còn giá trị sử dụng, không biết dùng vào việc gì và T không yêu cầu bồi thường. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh A không tiến hành định giá để xử lý là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.7] Đối với bà Phan Thị Ngọc S1 đã mua tài sản của bị cáo K. Tuy nhiên, khi mua bà S1 không biết và bị cáo K không nói đây là tài sản trộm cắp của người khác mà có, Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với S1 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phan Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Xử phạt bị cáo Phan Tuấn K: 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 23/7/2025 (Ngày hai mươi ba tháng bảy năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm).

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã xử lý quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phan Tuấn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh AG (1);
  • - Viện KSND tỉnh AG (1);
  • - Viện KSND khu vực 13 – An Giang (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Phân trại tạm giam khu vực Châu Phú (1);
  • - Phòng THADS khu vực 13 – An Giang (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Người tham gia tố tụng (3);
  • - Lưu hồ sơ; Lưu văn phòng (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 24/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 59/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Phan Tuấn Khanh: 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 23/7/2025 (Ngày hai mươi ba tháng bảy năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger