Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 – CAO BẰNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HS-ST

Ngày: 26 - 11 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CAO BẰNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lục Thị Út.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nông Thị Thu Hương, nghề nghiệp: Hiệu trưởng Trường THCS Ngọc Xuân, phường Nùng Trí Cao.
  2. Bà Phan Bích Liễu, nghề nghiệp: Hiệu trưởng Trường Tiểu học Nước Hai, xã Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Bích Phương, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trường Long - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 50/2025/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/HSST-QĐ ngày 30/10/2025; thông báo mở lại phiên tòa số 790/TB-TA ngày 30/10/2025 đối với các bị cáo:

1. Nông Gia H, sinh ngày 31/10/2009 tại phường T, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Cao Bằng; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không nghề; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Tày; Con ông Nông Văn H1, sinh năm 1986 và bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1984; Vợ con: Chưa có. Anh chị em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh C từ ngày 13/6/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Phúc H2, sinh ngày 18/02/2008 tại phường T, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố C, phường T, tỉnh Cao Bằng; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Học sinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Nguyễn Tiến T, sinh năm 1982 và bà Hoàng Thị Lan H3, sinh năm 1984; Vợ con: Chưa có. Anh chị em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh C từ ngày 13/6/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

3. Đặng Việt A, sinh ngày 31/12/2008 tại phường T, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không nghề; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Tày; Con ông Đặng Ngọc V, sinh năm 1984 và bà Hà Thị D, sinh năm 1985; Vợ con: Chưa có. Anh chị em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh C từ ngày 13/6/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

4. Vũ Mạnh D1, sinh ngày 02/5/2006 tại phường T, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố S, phường T, tỉnh Cao Bằng; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Nùng; Con ông Vũ Văn N, sinh năm 1967 và bà Lục Thị T1, sinh năm 1977; Vợ con: Chưa có. Anh chị em ruột: Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú tại phường T, tỉnh Cao Bằng từ ngày 30/7/2025 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nông Gia H, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nông Văn H1 (Vắng mặt) và bà Nguyễn Thị Hồng L (Có mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố A, phường T, tỉnh Cao Bằng.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Phúc H2, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Tiến T và bà Hoàng Thị Lan H3. Có mặt.

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố C, phường T, tỉnh Cao Bằng.Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đặng Việt A, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :

  • Ông Đặng Ngọc V, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

  • Bà Hà Thị D, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Đ, phường P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.

Người bào chữa cho các bị cáo Nông Gia H, Nguyễn Phúc H2, Đặng Việt A: Bà Hà Thị H4 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C. Có mặt.

Người bào chữa và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Vũ Mạnh D1: Ông Diệp Năng B, ông Đinh Văn T2, ông Nguyễn Phi K, đều là Luật sư hoạt động tại Văn phòng Luật sự Tinh thông Luật thuộc đoàn Luật sư Thành phố H. Ông Diệp Năng B có mặt, ông Đinh Văn T2, ông Nguyễn Phi K vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị T3, sinh năm 1957.

Trú tại: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng. Có mặt

  1. Ông Lê Đức H5, sinh năm 1985.

Trú tại: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt

Người làm chứng:

  1. Hoàng Kim A1, sinh ngày 13/9/2007.

Người đại diện hợp pháp của Hoàng Kim A1: Ông Vi Văn T4 và bà Triệu Thị S.

Cùng trú tại: Tổ dân phố A, phường N, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

  1. Phạm Hồng Á, sinh ngày 12/12/2007.

Người đại diện hợp pháp của Phạm Hồng Á: Ông Phạm Xuân H6 và bà Lôi Thị Mộng Đ.

Cùng trú tại: Tổ dân phố E, phường T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

  1. Nông Mai Quốc H7, sinh ngày 23/02/2009.

Người đại diện hợp pháp của Nông Mai Quốc H7: Bà Mai Thu T5

Cùng trú tại: Tổ dân phố S, phường T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

  1. Phạm Văn Q, sinh năm 2000.

Trú tại: Tổ dân phố S, phường T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

  1. Nguyễn Thị Như Q1, sinh năm 2006.

Trú tại: Tổ dân phố D, phường N, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

  1. Phương Nguyễn Linh A2, sinh năm 2005.

Trú tại: Tổ dân phố C, phường T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

  1. Nguyễn Thị T6, sinh năm 2005.

Trú tại: Tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

  1. Triệu Văn C1, sinh năm 2005.

Trú tại: Tổ dân phố N, phường T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

- Những người tham gia tố tụng khác: Trường THPT C3, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/5/2025, Công an phường H (nay là Công an phường T) nhận được tin báo của Vũ Bằng N1 (sinh ngày 31/8/1999; trú tại: Tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Cao Bằng) về việc: Khoảng 03 giờ ngày 12/5/2025, tại khu vực chợ T7 thuộc tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng, em trai của N1 là Vũ Mạnh D1 bị 03 người có tên H7, H6, Việt A dùng dao đánh gây thương tích phải đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh C, sau đó được gia đình đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện V1 tại Hà Nội.

Sau khi tiếp nhận thông tin, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh C đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác minh ban đầu xác định: Khoảng 03 giờ 10 phút ngày 12/5/2025, tại khu vực chợ T7 thuộc tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng, Vũ Mạnh D1; Nông Gia H (sinh ngày 31/10/2009); Nguyễn Phúc H2 (sinh ngày 18/02/2008); Đặng Việt A (sinh ngày 31/12/2008) có hành vi cãi chửi nhau và dùng dao, cây đánh nhau gây thương tích.

Quá trình điều tra xác định:

Khoảng 03 giờ ngày 12/5/2025, Nông Gia H, Nguyễn Phúc H2, Đặng Việt A, Hoàng Kim A1, Phạm Hồng Á, Vũ Mạnh D1 cùng một số người bạn ngồi uống rượu tại quán của Lê Đức H5 tại khu vực vỉa hè của chợ T7 thành phố C. Trong lúc uống rượu, D1 đi sang bàn bên cạnh mời Phạm Văn Q uống rượu, sau đó Q cũng sang bàn D1 mời rượu lại và đi về. Sau khi Q đi, H2 nói “Ghét mấy thằng tên Q”, D1 nghe thấy nên hỏi H2 “mày nói gì anh tao”, sau đó D1 và H2 chửi nhau, D1 dùng tay đẩy vào ngực H2, H2 cầm một ghế nhựa lên định đánh lại D1 thì được mọi người can ngăn, H2 bỏ ghế xuống. Thấy vậy, D1 đi vào khu vực bếp của quán cầm một cái kéo và một con dao gọt hoa quả định đánh H2 thì được mọi người can ngăn, thu lại dao và kéo. D1 và H2 tiếp tục chửi nhau thì H tiến đến đẩy D1 và nói “mày định làm gì”, sau đó D1 tiếp tục chửi nhau với H2 và H. D1 rút thắt lưng ra vụt về phía H2, H2 và H cũng rút thắt lưng ra định đánh lại D1 thì mọi người xung quanh can ngăn kéo H2 và H ra khu vực vỉa hè trước cửa Công ty X. Lúc này, D1 tiếp tục chửi bới và tiến đến một gốc cây gần đó nhặt cục bê tông lên ném về phía H2 và H nhưng không trúng, những người xung quanh kéo D1 lại thì D1 vùng ra và giật ống nước bằng nhựa dài khoảng 50cm ở mái hiên hiệu thuốc Phương A2, sau đó lao vào vụt về phía H thì mọi người tiếp tục can ngăn, đè D1 xuống đất và kéo H2, H ra chỗ để xe.

Tại chỗ để xe, H2 nói với H “em ơi mình về nhà lấy dao xem nó định làm gì, nó vừa cầm ống nhựa định đánh anh em mình đấy”, H nói “qua nhà em” (trước đó H2 đã gửi ở nhà H 01 con dao), H2 nói với Việt A “quay xe”, Việt A hiểu ý là lấy xe máy chở H về nhà để lấy dao nên đưa chìa khóa xe cho H2, rồi H2 điều khiển xe mô tô Honda Wave @ màu đỏ không gắn biển kiể soát của Việt A chở Việt A và H về nhà. Sau khi lấy được dao, Việt A điều khiển xe chở H và H2 quay lại khu vực phố đi bộ. Khoảng 10 phút sau, cả ba đến phố đi bộ, Việt A đỗ xe ở khu vực vỉa hè chợ trung tâm đối diện khách sạn S1, H2 nhắn tin cho D1 hẹn quay lại quán của H5 nhưng D1 không trả lời nên H2 gọi điện cho bạn của D1 bảo “mày gọi thằng D1 ra đây tao chém”, sau đó ngồi đợi ở chỗ đỗ xe.

Khoảng 10 phút sau, D1 điều khiển xe mô tô đến và cầm theo 01 khúc tre dài khoảng 80cm. H thấy vậy liền cầm dao lao về phía D1 thì D1 nhảy xuống xe rồi hai bên tiếp tục chửi nhau, H cầm dao và D1 cầm cây vụt loạn xạ về phía đối phương, D1 vụt trúng vào tay H làm H bị ngã thì H2 cũng cầm dao lao vào chém về phía D1. D1 vừa cầm cây vụt lại vừa bước lùi về phía phố đi bộ Kim Đ1, khi đến chỗ dốc xuống nên trượt chân ngã xuống đất. Lúc này, H vừa đứng dậy cầm dao lao vào cùng H2 chém loạn xạ vào D1 đang ngồi trên đất. H dùng dao chém 04 phát trúng vào đầu, lưng, tay và vùng mông của D1, H2 dùng dao chém 03 phát trúng vào đầu gối chân trái, vai và tay trái của D1. Thấy D1 bị chảy máu và không còn phản kháng nên cả H và H2 tự dừng lại rồi sự việc chấm dứt. H2 bảo Kim A1 đưa D1 đi bệnh viện cấp cứu, sau đó Việt A điều khiển xe mô tô chở H2 và H đến khu vực Q km5. Sau khi đưa D1 đến Bệnh viện, Á điều khiển xe chở Kim A1 đến chỗ H2, sau đó Kim A1 lấy 02 (hai) con dao của H và H2 đem về nhà Kim A1 cất rồi cả nhóm đến Bệnh viện để xem tình hình của D1 rồi đi về nhà ngủ.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ một số vật chứng:

  • 01 (một) khúc cây dài 75cm màu vàng, hình trụ có đường kính lớn nhất 3,5cm, đường kính nhỏ nhất 2,5cm, tại một đầu của khúc cây bị vỡ nứt;
  • 01 (một) khúc cây màu vàng có kích thước 23,5x02cm;
  • 01 (một) khúc cây màu vàng bị nứt vỡ có kích thước 58,5x03cm;
  • 01 (một) khúc cây màu vàng có kích thước 47,5x1,5cm;
  • 01 (một) khúc cây màu vàng bị nứt kích thước 25,5x2,5cm;
  • 01 (một) mảnh khúc cây màu vàng có kích thước 22,5x2,2cm;
  • 01 (một) thắt lưng màu đen, không rõ nhãn hiệu, qua sử dụng;
  • 02 (hai) chiếc dép màu xanh da trời;
  • 01 (một) con dao, loại dao nhỏ nhãn hiệu KIWI, cán màu vàng, lưỡi dao dài 11,5cm, cán dao dài 10cm, lưỡi dao đã bị rỉ sét, mẻ;
  • 01 (một) cây kéo nhãn hiệu STANLESS, màu đen, dài 20,5cm, cây kéo đã bị rỉ sét;
  • 01 (một) con dao (dạng thanh kiếm) có đầu nhọn, có tổng chiều dài 67cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 47cm, có phần rộng nhất 5cm; cán kiếm bằng gỗ màu nâu dài 20cm; có vỏ kiếm bằng gỗ màu vàng có chiều dài 54cm, phần rộng nhất 6cm;
  • 01 (một) con dao (dạng thanh kiếm) có đầu nhọn, có tổng chiều dài 75cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 53cm; cán kiếm bằng gỗ màu nâu có chiều dài 22cm; không có vỏ kiếm;
  • 01 (một) xe mô tô Honda Wave @ màu đỏ, không gắn biển kiểm soát.

Tại Bản kết luận giám định số 052/25/KLTTCT-TTPY ngày 16/5/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh C kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nông Gia H tại thời điểm giám định là 0% (không phần trăm)”;

Tại Bản kết luận giám định số 053/25/KLTTCT-TTPY ngày 19/5/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh C kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Phúc H2 tại thời điểm giám định là 0% (không phần trăm)”;

Tại Bản kết luận giám định số 054/25/KLTTCT-TTPY ngày 09/6/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh C kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Mạnh D1 tại thời điểm giám định là 38% (ba mươi tám phần trăm)”;

Tại bản Kết luận giám định số 399/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh C kết luận “02 (Hai) mẫu vật gửi giám định là Đao, thuộc vũ khí thô sơ”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T3 trình bày: Bà là bà nội của Đặng Việt A, chiếc xe bị cáo Đặng Việt A sử dụng là của bà, bà không biết việc Việt A sử dụng chiếc xe trên vào việc phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà, bà không có ý kiến, yêu cầu nào khác.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đức H5 trình bày: Ông là chủ quán xảy ra việc xô xát ban đầu của các bị cáo, trong quá trình xô xát bị cáo D1 có vào bếp lấy 01 (một) cây kéo nhãn hiệu STANLESS, màu đen, dài 20,5cm, cây kéo đã bị rỉ sét do sử dụng lâu ngày và 01 (một) con dao, loại dao nhỏ nhãn hiệu KIWI, cán màu vàng, lưỡi dao dài 11,5cm, cán dao dài 10cm, lưỡi dao đã bị rỉ sét, mẻ do sử dụng lâu ngày. Việc bị cáo D1 lấy dao, kéo ông không biết và ông không yêu cầu được trả lại chiếc kéo và con dao trên.

Những người làm chứng trong vụ án đều vắng mặt tại phiên tòa, trong đơn xin xét xử vắng mặt xác nhận được chứng kiến sự việc diễn ra ngày 12/5/2025 giữa các bị cáo đúng như nội dung Bản kết luận điều tra của công an tỉnh C và Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Cao Bằng.

Tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKSKV1 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng truy tố các bị cáo Nông Gia H, Nguyễn Phúc H2, Đặng Việt A về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vũ Mạnh D1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 54, Điều 58, Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 119, Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Nông Gia H, tuyên bố bị cáo Nông Gia H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Nông Gia H từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 54, Điều 58, Điều 38, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Nguyễn Phúc H2, tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc H2 phạm tội phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc H2 từ y từ 24 tháng đến 30 tháng tù giam.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 54, Điều 58, Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119, Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Đặng Việt A, tuyên bố bị cáo Đặng Việt A phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Đặng Việt A từ 21 tháng đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Mạnh D1, tuyên bố bị cáo Vũ Mạnh D1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xử phạt bị cáo Vũ Mạnh D1 từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Do các bị cáo, người đại diện hợp pháp đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và bị hại đã tự thỏa thuận, không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) khúc cây dài 75cm màu vàng, hình trụ tròn có đường kính lớn nhất 3,5cm, đường kính nhỏ nhất 2,5cm, tại một đầu của khúc cây bị vỡ, nứt; 01 (một) khúc cây màu vàng có kích thước 23,5 x 02cm; 01 (một) mảnh khúc cây màu vàng bị nứt vỡ kích thước 58,5 x 03cm; 01 (một) mảnh khúc cây màu vàng kích thước 47,5 x 1,5cm; 01 (một) mảnh khúc cây màu vàng bị nứt kích thước 25,5 x 2,5cm; 01 (một) mảnh khúc cây màu vàng kích thước 22,5 x 2,2cm; 01 (một) con dao, loại dao nhỏ nhãn hiệu KIWI, cán màu vàng, lưỡi dao dài 11,5cm, cán dao dài 10cm, lưỡi dao đã bị rỉ sét, mẻ do sử dụng lâu ngày; 01 (một) cây kéo nhãn hiệu STANLESS, màu đen, dài 20,5cm, cây kéo đã bị rỉ sét do sử dụng lâu ngày do các bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội.

+ Đối với 01 (một) con dao (dạng thanh kiếm) có đầu nhọn, có tổng chiều dài 67cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 47cm, có phần rộng nhất 5cm; cán kiếm bằng gỗ màu nâu dài 20cm; có vỏ kiếm bằng gỗ màu vàng có chiều dài 54cm, phần rộng nhất 6cm và 01 (một) con dao (dạng thanh kiếm) có đầu nhọn, có tổng chiều dài 75cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 53cm; cán kiếm bằng gỗ màu nâu có chiều dài 22cm; không có vỏ kiếm đã được cơ quan Cảnh sát Điều tra tạm giữ để điều tra về hành vi sử dụng trái phép vũ khí quân dụng đối với bị cáo Nguyễn Phúc H2 nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

+ Đối với 01 (một) xe mô tô Honda Wave @ màu đỏ, không gắn biển kiểm soát, cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Trần Thị T3 theo đúng quy định nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Trả lại cho Vũ Mạnh D1 02 (hai) chiếc dép màu xanh da trời;

- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho các bị cáo Nông Gia H, Nguyễn Phúc H2, Đặng Việt A bà Hà Thị H4 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C trình bày: Nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát về căn cứ, tội danh và hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa chưa thành niên, tâm sinh lý chưa phát triển toàn diện, không ý thức hết được hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Về vai trò đồng phạm của các bị cáo H, H2, Việt A là đồng phạm giản đơn, phạm tội do tính chất bộc phát. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo H, H2, Việt A thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, bố mẹ các bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, các bị cáo đều có ông, bà là người có công với cách mạng được tặng thưởng H8, Huy chương kháng chiền. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, điểm c khoản 1 Điều 134, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự, cho các bị cáo được hưởng án treo với mức án thấp nhất của Viện kiểm sát đã đề nghị.

Người bào chữa và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Vũ Mạnh D1, ông Diệp Năng B – Luật sư hoạt động tại Văn phòng Luật sư tinh thông Luật thuộc đoàn Luật sư thành phố H trình bày: Nhất trí với tội danh Viện kiểm sát đã đề nghị, tuy nhiên bị cáo D1 phạm tội gây thiệt hại không lớn, hành vi của bị cáo chỉ nhằm mục đích hù dọa các bị cáo khác. Các bị cáo là nhóm bạn chơi chung với nhau, bị cáo bị khuyết tật não nhẹ, vết thương ở chân bị cáo vẫn chưa bình phục hoàn toàn, vẫn phải tiếp tục điều trị. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được áp dụng hình phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ để bị cáo có thời gian điều trị thương tích.

Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến đối đáp với người bào chữa của bị cáo Vũ Mạnh D1: Viện kiểm sát xét thấy bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ, bị khuyết tật não nhẹ và đang điều trị thương tích, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp với quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên mức án, hình phạt đã đề nghị đối với bị cáo Vũ Mạnh D1.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát. Khi được nói lời sau cùng bị cáo H, bị cáo H2 mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất và mức án thấp nhất, chấp hành án tại địa phương, để được tiếp tục đi học và trở thành người công dân có ích cho xã hội; bị cáo Đặng Việt A mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất và mức án thấp nhất, chấp hành án tại địa phương, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, làm lại cuộc đời. Bị cáo Vũ Mạnh D1 mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất và mức án thấp nhất để bị cáo đi mổ khớp gối lần thứ hai, tiếp tục điều trị vết thương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, người tham gia tố tụng cung cấp; hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh C; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thu thập, thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các chứng cứ, tài liệu, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập, thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản hỏi cung, lời khai của người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 03 giờ 10 phút ngày 12/5/2025, tại khu vực vỉa hè chợ T7 thuộc tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng, Vũ Mạnh D1 có hành vi xô xát cãi chửi nhau và dùng cục bê tông, ống nước đánh nhau với Nông Gia H, Nguyễn Phúc H2 gây mất trật tự trị an. Sau khi được can ngăn, Đặng Việt A sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave @ không gắn biển kiểm soát giúp H và H2 đi về nhà lấy Dao với mục đích gây thương tích cho D1. Đến khoảng 03 giờ 15 phút cùng ngày 12/5/2025, Nông Gia H, Nguyễn Phúc H2 sử dụng D2 và D1 dùng cây đánh nhau gây ảnh hưởng xấu tới trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Trong quá trình đánh nhau, H và H2 sử dụng Dao gây thương tích cho D1 38% (Ba mươi tám phần trăm).

Các bị cáo thực hiện hành vi khi có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo biết rõ hành vi của bản thân gây ra là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

Hành vi của các bị cáo Nông Gia H, Nguyễn Phúc H2, Đặng Việt A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Vũ Mạnh D1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Bản cáo trạng số 41/CT-VKSKV1 ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Cao Bằng đã truy tố, cũng như ý kiến luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo Nông Gia H, Nguyễn Phúc H2, Đặng Việt A đã thực hiện là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến sức khỏe của cá nhân được pháp luật bảo vệ, thể hiện sự hung hãn, xem thường kỷ cương pháp luật và sức khỏe của người khác ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Hành vi của bị cáo Vũ Mạnh D1 đã thực hiện là nghiêm trọng, làm ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự, trị an xã hội. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo hình phạt, mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

[4.1] Về nhân thân: Các bị cáo đều từng bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng thời điểm bị xử phạt, các bị cáo đều chưa thành niên nên có nhân thân tốt.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi sự việc xảy ra, bố, mẹ các bị cáo Nông Gia H, Nguyễn Phúc H2, Đặng Việt A đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại cho Vũ Mạnh D1; Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và người bị hại cũng có lỗi; bị cáo Nguyễn Phúc H2 có bố đẻ là Nguyễn Tiến T được tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhì, ông ngoại Hoàng Việt A3 được tặng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhất; bị cáo Đặng Việt A có bà nội Trần Thị T3 được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhì và Huân C2 chiến công hạng ba nên các bị cáo Nông Gia H, Nguyễn Phúc H2, Đặng Việt A được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với ông nội của Nguyễn Phúc H2, ông Nguyễn Văn N2 là thương binh loại A hạng 2/4 và cụ nội của Nông Gia H, được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến, không thuộc trường hợp được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên không chấp nhận.

Bị cáo Vũ Mạnh D1 trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có ông nội Vũ Xuân Ỷ được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Việc các bị cáo Nông Gia H, Nguyễn Phúc H2, Đặng Việt A và người đại diện hợp pháp, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của các bị cáo H, H2, Việt A xin giảm nhẹ hình phạt cho Vũ Mạnh D1. Hội đồng xét xử xét thấy, đối với tội gây rối trật tự công cộng không có bị hại nên không xem xét cho bị cáo D1 hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự.

[4.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4.4] Về đồng phạm, vai trò và trách nhiệm của các bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này, đối với tội “Cố ý gây thương tích” có tính chất đồng phạm, bị cáo H là người thực hành, bị cáo H2 là người khởi xướng và người thực hành; bị cáo Việt A không trực tiếp tham gia gây thương tích cho Vũ Mạnh D1 nhưng lại dùng xe máy chở H và H2 về nhà lấy Dao, sau khi sự việc kết thúc lại chở H, H2 về khu vực Quảng trường K nên là đồng phạm với vai trò là người giúp sức. Tuy nhiên, các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ, không có sự phân công cụ thể, người nào là người tổ chức, người nào là thực hành nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Đối với tội “Gây rối trật tự công cộng” không có đồng phạm.

[5] Về hình phạt: Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử xét thấy: Để đảm bảo xét xử công bằng, nghiêm minh, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, căn cứ về độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự, vai trò đồng phạm để phân hóa trách nhiệm hình sự của từng bị cáo. Hành vi của các bị cáo Nông Gia H, Nguyễn Phúc H2, Đặng Việt A đã thực hiện rất nghiêm trọng, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Nông Gia H được 15 tuổi 06 tháng 12 ngày, bị cáo Nguyễn Phúc H2 được 17 tuổi 02 tháng 24 ngày, bị cáo Đặng Việt A được 16 tuổi 04 tháng 12 ngày, đều chưa thành niên. Các bị cáo phạm tội do thiếu suy nghĩ, bồng bột nên nhận thức về hậu quả của hành vi phạm tội còn hạn chế.

Điều 91 Bộ luật hình sự quy định: “1....Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải đảm bảo lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.

6. Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa. Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất”.

Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên định về việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên:…… “ Hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục họ ý thức tôn trọng, tuân theo pháp luật và các chuẩn mực đạo đức, lối sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới, có tác dụng phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nếu xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa. Trường hợp phải áp dụng hình phạt thì ưu tiên áp dụng hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo”.

Điều 119. Luật tư pháp người chưa thành niên quy định

“Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định như sau:

1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật của Bộ luật Hình sựáp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 15 năm tù, nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần năm mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sựđịnh....

3. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật của Bộ luật Hình sựáp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 09 năm tù, nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá hai phần năm mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sựđịnh”.

Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo H, H2, Việt A có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đủ điều kiện áp dụng điều 54 bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo H, Việt A có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo H, bị cáo Việt A ra khỏi đời sống xã hội và việc cho bị cáo H, Việt A hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, để các bị cáo được tiếp tục theo học hết chương trình phổ thông và tu dưỡng bản thân trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội.

Bị cáo Nguyễn Phúc H2 là người khởi xướng và thực hành nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo H, bị cáo Việt A. Đồng thời bị cáo H2 đang bị cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh C đang điều tra về hành vi “sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” nếu cho bị cáo H2 hưởng án treo sẽ không đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nên cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo H2 như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát là phù hợp. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử, cho các bị cáo Nông Gia H, Nguyễn Phúc H2, Đặng Việt A được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng với thời hạn thích hợp ngắn nhất. Đối với bị cáo Nông Gia H mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá hai phần năm mức phạt tù; bị cáo Đặng Việt A mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần năm mức phạt tù mà điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự quy định.

Đối với bị cáo Vũ Mạnh D1 thực hiện hành vi phạm tội khi đã trên 18 tuổi, bản thân bị cáo bị khuyết tật não nhẹ và bị thương tích do bị cáo H, Việt A gây nên, hiện nay vết thương ở đầu gối vẫn chưa phục hồi, bị cáo vẫn đang tiếp tục điều trị vết thương. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, tu dưỡng bản thân trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội nên không cần thiết phải cách ly bị cáo D1 ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo hưởng án treo, vẫn đảm bảo bị cáo không phạm tội mới do thương tích của bị cáo chưa phục hồi, cần có thời gian được tiếp tục thực hiện ca mổ lần thứ hai.

Hình phạt và mức án Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Lời bào chữa của người bào chữa cho các bị cáo Nông Gia H, Nguyễn Phúc H2, Đặng Việt A có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Vũ Mạnh D1 không có căn cứ và không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, người đại diện hợp pháp, của các bị cáo H, H2, Việt A, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, tại phiên tòa bị hại không yêu cầu bố, mẹ của các bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về việc xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ:

- Đối với 01 (một) khúc cây dài 75cm màu vàng, hình trụ có đường kính lớn nhất 3,5cm, đường kính nhỏ nhất 2,5cm, tại một đầu của khúc cây bị vỡ, nứt; 01 (một) khúc cây màu vàng có kích thước 23,5 x 02cm; 01 (một) khúc cây màu vàng bị nứt vỡ kích thước 58,5 x 03cm; 01 (một) khúc cây màu vàng kích thước 47,5 x 1,5cm; 01 (một) khúc cây màu vàng bị nứt kích thước 25,5 x 2,5cm; 01 (một) mảnh khúc cây màu vàng kích thước 22,5 x 2,2cm; 01 (một) thắt lưng màu đen, không rõ nhãn hiệu, qua sử dụng; 01 (một) con dao, loại dao nhỏ nhãn hiệu KIWI, cán màu vàng, lưỡi dao dài 11,5cm, cán dao dài 10cm, lưỡi dao đã bị rỉ sét, mẻ; 01 (một) cây kéo nhãn hiệu STANLESS, màu đen, dài 20,5cm, cây kéo đã bị rỉ sét là những công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) con dao (dạng thanh kiếm) có đầu nhọn, có tổng chiều dài 67cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 47cm, có phần rộng nhất 5cm; cán kiếm bằng gỗ màu nâu dài 20cm; có vỏ kiếm bằng gỗ màu vàng có chiều dài 54cm, phần rộng nhất 6cm; 01 (một) con dao (dạng thanh kiếm) có đầu nhọn, có tổng chiều dài 75cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 53cm; cán kiếm bằng gỗ màu nâu có chiều dài 22cm; không có vỏ kiếm cơ quan điều tra đang tạm giữ để điều tra về hành vi khác nên không xem xét.

- Đối với 01 (một) xe mô tô Honda Wave @ màu đỏ, không gắn biển kiểm soát của bà Trần Thị T3, cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Trần Thị T3 đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 02 (hai) chiếc dép màu xanh da trời của bị cáo D1 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo D1 là phù hợp.

[8] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với hành vi sử dụng Dao thuộc vũ khí thô sơ gây thương tích cho người khác của Nông Gia H, Nguyễn Phúc H2 có dấu hiệu của tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đã tiến hành tách hồ sơ, tài liệu liên quan và chuyển tới Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C để giải quyết theo thẩm quyền. Nếu đủ căn cứ sẽ xử lý bằng một vụ án khác.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, bị hại, người bào chữa của các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 47; Điều 54; Điều 58; Điều 65; Điều 91 Bộ luật Hình sự; Điều 12, khoản 3 Điều 119, Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên; Điều 106; Điều 136; Điều 328; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đối với các bị cáo Nông Gia H, Đặng Việt A.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 47; Điều 54; Điều 58; Điều 91 Bộ luật Hình sự; Điều 12, khoản 1 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên; Điều 106; Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đối với bị cáo Nguyễn Phúc H2.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 65; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đối với bị cáo Vũ Mạnh D1.

1. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Nông Gia H, Nguyễn Phúc H2, Đặng Việt A phạm tội “Cố ý gây thương tích”, bị cáo Vũ Mạnh D1 phạm tội "Gây rối trật tự công cộng".

2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Nông Gia H 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Xử phạt bị cáo Đặng Việt A 21 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho các bị cáo Nông Gia H, Đặng Việt A.

- Xử phạt bị cáo Vũ Mạnh D1 26 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 52 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Nông Gia H, Đặng Việt A, Vũ Mạnh D1 cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Cao Bằng để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, các bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc H2 24 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để tạm giam là ngày 13/6/2025.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Phúc H2 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để bảo đảm thi hành án.

3. Về việc xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) khúc cây dài 75cm màu vàng, hình trụ có đường kính lớn nhất 3,5cm, đường kính nhỏ nhất 2,5cm, tại một đầu của khúc cây bị vỡ, nứt; 01 (một) khúc cây màu vàng có kích thước 23,5 x 02cm; 01 (một) khúc cây màu vàng bị nứt vỡ kích thước 58,5 x 03cm; 01 (một) khúc cây màu vàng kích thước 47,5 x 1,5cm; 01 (một) khúc cây màu vàng bị nứt kích thước 25,5 x 2,5cm; 01 (một) mảnh khúc cây màu vàng kích thước 22,5 x 2,2cm; 01 (một) thắt lưng màu đen, không rõ nhãn hiệu, qua sử dụng; 01 (một) con dao, loại dao nhỏ nhãn hiệu KIWI, cán màu vàng, lưỡi dao dài 11,5cm, cán dao dài 10cm, lưỡi dao đã bị rỉ sét, mẻ; 01 (một) cây kéo nhãn hiệu STANLESS, màu đen, dài 20,5cm, cây kéo đã bị rỉ sét.

- Trả lại cho bị cáo Vũ Mạnh D1 02 (hai) chiếc dép màu xanh da trời.

4. Về án phí:

Buộc các bị cáo Nông Gia H, Nguyễn Phúc H2, Đặng Việt A, Vũ Mạnh D1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp Ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Bằng;
  • - VKSND tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Cao Bằng;
  • - VKSNDKV1 – CB;
  • - Phòng THADSKV1 -CB;
  • - Bị cáo;
  • - Người ĐDHP của bị cáo;
  • - Người làm chứng;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lục Thị Út

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nông Thị Thu Hương

Phan Bích Liễu

Lục Thị Út

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 26/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – CAO BẰNG về hình sự

  • Số bản án: 59/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nông Gia H, Nguyễn Phúc H, Đặng Việt A gây thương tích cho Vũ Mạnh D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger