Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HS-ST

Ngày 17-3-2025

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Hữu Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Quang Hoạch

Bà Đào Thị Giang

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Anh- Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom- tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Lê Trọng Đại- Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Trần Hải L, sinh ngày 17 tháng 4 năm 1986 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú: Khu phố N, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh D, sinh năm 1963 (đã chết) và bà Trần Thị Nghĩa D1, sinh năm 1967; Vợ là Trần Thị Thu V, sinh năm 1989 (Đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/8/2022 đến ngày 08/9/2022 được tại ngoại nhưng bỏ trốn, ngày 25/9/2024 bị bắt truy nã, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam B5- Công an tỉnh Đ (có mặt).

- Bị hại: Ông Bùi Văn H, sinh năm 1991. Địa chỉ: ấp D, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Công ty cổ phần K2. Trụ sở chính: Phòng 206 tầng M, tòa nhà N, số B N, phường T, Quận T, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phùng Anh T – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Quốc C. Nơi đăng ký thường trú: 4 C, phường E, thành phố T, tỉnh Long An. (Theo giấy ủy quyền số 09/2025/GUQ-F88/TGĐ ngày 07/3/2025) (Xin vắng mặt).

+ Anh Gịp Thành Q, sinh năm 1995. Nơi thường trú: Ấp I, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trần Hải L làm nghề môi giới bất động sản tự do trên địa bàn huyện T và huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Ngày 26/6/2018, ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị H1, (cùng địa chỉ thường trú tại ấp D, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai) được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN211624 cho thửa đất số 2729, tờ bản đồ số 5, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai có diện tích 593,4m², mục đích sử dụng: 400m² đất ở tại nông thôn và 193,4m² đất trồng cây lâu năm. Ngày 21/6/2022, ông C1 và bà H1 bán lại thửa đất trên cho ông Đặng Xuân T1 (sinh năm 1953, địa chỉ thường trú tại ấp D, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai) và được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh T5 cập nhật tên trên Giấy chứng nhận vào ngày 21/7/2022.

Trong thời gian chờ Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh T5 cập nhật tên Giấy chứng nhận thì ngày 07/7/2022, con trai ông T1 là anh Đặng Thái P (sinh năm 1988) thuê L làm thủ tục để tách thửa đất số 2729, tờ bản đồ số 5, xã A thành 5 thửa đất khác nhau để tặng, cho các con ruột của ông T1 gồm: Đặng Đức P1, Đặng Tuấn K, Đặng Huy C2, Đặng Thị Mai T2, Đặng Quốc Đ với chi phí là 50.000.000 đồng. Ngày 06/8/2022, anh P đã chuyển khoản số tiền 40.000.000 đồng đến số tài khoản 0933033898 (Ngân hàng M1) của Nguyễn Trần Hải L để L thực hiện theo thỏa thuận với anh P.

Ngày 09/8/2022, L thuê nhân viên của Văn phòng C4, địa chỉ: số H, Khu F, Quốc lộ A, ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, đến nhà ông T1 tại xã A, huyện T để làm các giấy tờ, gồm:

- Hợp đồng tặng, cho quyền sử dụng đất thửa đất trên của ông Đặng Xuân T1 và bà Nguyễn Thị K1 (vợ của ông T1) cho các con gồm: Đặng Đức P1, Đặng Tuấn K, Đặng Huy C2, Đặng Thị Mai T2 và Đặng Quốc Đ.

- Giấy ủy quyền với bên ủy quyền là anh P1, anh K, anh C2, chị T2 và anh Đ; bên nhận ủy quyền là L, nội dung: Ủy quyền cho L được quyền thay mặt 05 cá nhân trên ký kết, nộp và nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 2729, tờ bản đồ số 5, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai, liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền về việc đăng ký tặng cho, cấp đổi, gia hạn, các giấy tờ liên quan đến thủ tục phê duyệt chủ trương tách thửa, biên vẽ, đo đạc, chỉnh lý, chuyển mục đích, hợp thửa quyền sử dụng đất trên.

Sau khi ký xong các giấy tờ trên, anh P đã giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 2729, tờ bản đồ số 5, xã A (bản gốc) và các giấy tờ trên cho L để L liên hệ với Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh T5 làm thủ tục tách thửa, sang tên. Tuy nhiên, do bộ phận dịch vụ (L không nhớ cụ thể là ai) thông báo không biết khi nào mới làm xong được nên L không thực hiện được. Do đó, sáng ngày 16/8/2022, L tiếp tục thuê nhân viên của Văn phòng C4 đến nhà ông T1 để làm lại Giấy ủy quyền, nội dung như Giấy ủy quyền trước đây, nhưng thay đổi người được ủy quyền là anh Nguyễn Tiến Đ1 (bạn của L), sinh năm 1991 để Đ1 liên hệ với Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ làm các thủ tục như L đã thỏa thuận với anh P trước đó, đồng thời L đã giao toàn bộ giấy tờ liên quan (bản gốc) của thửa đất trên cho Đ1 để Đ1 thực hiện các thủ tục tách thửa, sang tên.

Đến chiều ngày 16/8/2022, do cần tiền trả nợ nên L nảy sinh ý định bán đất của ông T1 lấy tiền giải quyết việc riêng, để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của ông T1, L đã làm giả 01 giấy hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất với nội dung: “Lâm đặt cọc số tiền 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng) cho ông T1 để mua lại thửa đất số 2729, tờ bản đồ số 5, xã A”, trong hợp đồng có cả chữ ký, dấu vân tay của L và chữ ký, dấu vân tay mang tên “Đặng Xuân T1”, tuy nhiên toàn bộ các chữ ký, dấu vân tay trên đều do L tự ký tên và lăn tay chứ không phải của ông T1. Do chưa tìm được người mua đất nên L gặp anh Phan Văn C3 (sinh năm 1989) và nói cho anh C3 biết L có góp tiền mua chung thửa đất số 2729, tờ bản đồ số 5, xã A nhưng do cần tiền nên cần bán, L dẫn anh C3 đi xem vị trí đất và nói anh C3 tìm người mua để bán các lô đất trên với giá 800.000.000 đồng/1 lô thì anh C3 đồng ý. Ngày 17/8/2022, anh C3 tìm được khách mua đất nên báo cho L biết, L và anh C3 đến văn phòng công chứng của Nguyễn Văn H2 (sinh năm 1987) tại khu phố C, thị trấn T để giao dịch mua bán đất cùng người mua. Tại đây, để tạo sự tin tưởng cho người mua, L đã đưa “01 giấy hợp đồng giả đặt cọc mua bán nhà (đất) giữa L và ông T1” và các giấy tờ có liên quan đến thửa đất thửa đất số 2729, tờ bản đồ số 5, xã A, mục đích để chị Cao Thị M, sinh năm 1991-(là người giới thiệu cho anh Bùi Văn H mua đất), gửi các giấy tờ mà L đưa cho anh H xem qua Z và anh H tin tưởng L là chủ sở hữu của thửa đất. Sau khi được anh H tin tưởng đồng ý mua thì L đã nhờ chị Thái Huỳnh Mộng N, sinh năm 1984 (là nhân viên của văn phòng Nguyễn Văn H2) viết dùm 02 hợp đồng đặt cọc bán đất, sau khi N viết xong thì L ký kết 02 Hợp đồng đặt cọc để bán lô số 02 (118,54m²) và lô số 03 (118,72m²) thuộc một phần thửa đất số 2729, tờ bản đồ số 5, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai cho anh Bùi Văn H (tên người đặt cọc trên hợp đồng) với giá trị là 1.080.000.000 đồng/1 lô (do đã qua môi giới nên giá cao hơn so với giá mà L báo cho anh C3). Tại thời điểm ký hợp đồng, do anh H bận công việc nên không có mặt, anh H đã nhờ chị M đi ký hợp đồng đặt cọc thay anh H, do M đang đi cùng anh Nguyễn Đình T3, sinh năm 1987 (là chồng chị M, ở cùng địa chỉ) nên khi vào văn phòng của anh H2 thì chị M nói anh T3 ký hợp đồng đặt cọc mua 02 lô trong thửa đất trên với L thay cho anh H, sau khi ký xong hợp đồng đặt cọc thì L đọc số tài khoản của L để chị M gửi số tài khoản qua tin nhắn Zalo cho anh H để anh H chuyển khoản số tiền 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng) vào số tài khoản 0933033898 của L đứng tên mở tại Ngân hàng M1 (mỗi lô đặt cọc số tiền là 80.000.000 đồng).

Sau khi nhận được số tiền 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng) từ anh H chuyển đến tài khoản của L như trên thì L đã sử dụng 10.000.000 đồng trả tiền công tìm kiếm khách hàng cho anh C3, chuyển 140.000.000 đồng cho Nguyễn Thị H3 (không rõ nhân thân, lai lịch) là người thường xuyên làm ăn với L để trả nợ, còn lại 10.000.000 đồng thì L đã sử dụng tiêu xài hết, đến ngày 29/8/2022 thì L đã sử dụng hết số tiền chiếm đoạt của anh H.

Khoảng 10 giờ ngày 29/8/2022, L tiếp tục gặp anh H tại quán C5, địa chỉ: đường C, khu phố E, thị trấn T, huyện T để thỏa thuận lừa bán thêm 02 lô đất (01 lô ngang 5mx23,5m, 01 lô ngang 10mx23,5m) thuộc một phần thửa đất số 2729, tờ bản đồ số 5, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai (mà L nói là thửa đất của L) cho anh H thì bị lực lượng Công an phát hiện mời về trụ sở làm việc. Cùng vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) bản gốc Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất đề ngày 08/6/2022 giữa

Nguyễn Trần Hải L (bên mua) và Nguyễn Xuân T4 (bên bán). 02 (hai) Hợp đồng đặt cọc giữa Nguyễn Trần Hải L và anh Bùi Văn H ngày 17/8/2022 (Bản gốc). 01 (một) giấy ủy quyền số chứng thực 000933 ngày 09/8/2022 (Bản gốc). 01 (một) xe ô tô hiệu Cruze LTZ màu đỏ, biển số 60A - 914.52. 01 (một) điện thoại Iphone 13 promax, màu vàng và 01 điện thoại samsung Note 20 màu đen. 01 (một) hộp mực đen, 01 thẻ ngân hàng MB số ID 98574383 và 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Trần Hải L. Các biểu mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất (Bút lục số: 01-03).

Ngày 05/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 422/QĐ-KTMT gửi Phòng K3 (PC09) Công an tỉnh Đ giám định chữ ký, chữ viết và dấu điểm chỉ lăn tay của ông Đặng Xuân T1 trên 01 (một) bản gốc Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất đề ngày 08/6/2022 giữa Nguyễn Trần Hải L (bên mua) và Nguyễn Xuân T4 (bên bán). Tại Kết luận giám định số: 1871/KLGĐ-PC09 ngày 07/9/2022 của Phòng K3 (PC09) Công an tỉnh Đ, kết luận:

“- Chữ ký và chữ viết mang tên Đặng Xuân T1 trên tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký và chữ viết mang tên Đặng Xuân T1 trên các tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M6) không phải do cùng một người ký và viết ra.

- Điểm chỉ vân tay mang tên Đặng Xuân T1 tại phần mục Đại diện bên bán trên tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với điểm chỉ vân tay ngón trỏ trái, ngón trỏ phải trên tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu M3, M4, M6) là điểm chỉ vân tay không phải do cùng một người in ra”.

(Bút lục số: 17-18).

Ngày 07/4/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Trần Hải L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 2, Điều 174 Bộ luật Hình sự để điều tra theo quy định. Quá trình điều tra Nguyễn Trần Hải L đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.

Tại bản cáo trạng số: 52/CT-VKS-TB, ngày 07 tháng 02 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Nguyễn Trần Hải L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên Tòa, bị cáo Nguyễn Trần Hải L thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố là đúng sự thật. Bị cáo trình bày, được con của ông T1 nhờ làm thủ tục tách thửa thửa đất 2729, tờ bản đồ số 5, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai do ông Nguyễn Xuân T4 là chủ sử dụng và L đã làm nhờ Văn phòng công chứng làm giấy ủy quyền cho L để đi làm thủ tục tách thửa. Nhưng do cần tiền tiêu xài nên L nãy sinh ý định chiếm đoạt tài sản bằng cách làm giả 01 giấy hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất tại thửa đất số 2729, tờ bản đồ số 5, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai giữa Nguyễn Trần Hải L (bên mua) và Nguyễn Xuân T4 (bên bán), mục đích để người mua tin tưởng thửa đất trên là của L. L đưa hợp đồng đặt cọc giả cùng các giấy tờ khác cho C3 nhờ người tìm người mua 01 phần thửa đất đó. Sau đó C3 đã giới thiệu để bán cho anh H 02 lô đất là một phần thửa đất trên, L viết hợp đồng đặt cọc và anh H đã chuyển vào tài khoản L tổng số tiền số tiền 160.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền L đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 29/8/2022, L tiếp tục gặp anh H để thỏa thuận bán tiếp 02 lô đất (cũng nằm trong thửa đất nêu trên) thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ. Đối với chiếc điện thoại Iphone 13 promax

và 01 chiếc xe ô tô biển số 60A-914.52 là tài sản của L, L sử dụng điện thoại liên lạc để thực hiện hành vi bán đất cho anh H và sử dụng xe ô tô ngày 17/8/2022 đi đến giao dịch bán 02 lô đất cho anh H để chiếm đoạt số tiền 160.000.000 đồng, L đồng ý tịch thu sung ngân sách 02 tài sản này. Đối với việc vay tiền của công ty cổ phần K2 là giao dịch dân sự của L, L có cầm cố giấy đăng ký xe ô tô biển số 60A-914.52 cho công ty, còn xe ô tô biển số 60A-914.52 Lâm vẫn trực tiếp quản lý sử dụng.

Quá trình điều tra bị hại anh Bùi Văn H trình bày: Sau khi chị M gửi các giấy tờ mà L đưa cho anh H qua Z và anh H tin tưởng L là chủ sở hữu của thửa đất 2729, tờ bản đồ số 5, xã A, nên đồng ý đặt cọc để mua lô số 02 (diện tích 118,54m²) và lô số 03 (diện tích 118,72m²) thuộc một phần thửa đất số 2729, tờ bản đồ số 5, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai của L. Anh H đã nhờ chị M đi ký hợp đồng đặt cọc thay anh H, sau khi ký xong hợp đồng đặt cọc thì L đọc số tài khoản của L để chị M gửi số tài khoản qua tin nhắn Zalo cho anh H để anh H chuyển khoản số tiền 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng) vào số tài khoản 0933033898 của L đứng tên mở tại Ngân hàng M1 (mỗi lô đặt cọc số tiền là 80.000.000 đồng). Nay anh H yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại cho anh số tiền 160.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, đại diện công ty cổ phần K2- Ông Ngô Quốc C trình bày: Ngày 25/7/2022, công ty K2 và ông Nguyễn Trần Hải L đã giao kết hợp đồng cầm cố tài sản là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Chevolet Cruze, biển số 60A-914.52. Công ty K2 chỉ giữ giấy đăng ký xe ô tô mà vẫn giao xe ô tô cho ông Nguyễn Trần Hải L quản lý sử dụng. Nay công ty được biết ông Nguyễn Trần Hải L sử dụng chiếc xe này vào việc phạm tội. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho công ty K2, công ty đề nghị được nhận lại tài sản là chiếc xe ô tô biển số 60A-914.52 để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cầm cố đã giao kết. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần Hải L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại Iphone 13 promax, màu vàng; tịch thu tiêu hủy 01 hộp mực lăn tay bị cáo dùng vào việc phạm tội.

- Đối với 01 (một) giấy hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất đề ngày 08/6/2022 giữa Nguyễn Trần Hải L (bên mua) và Nguyễn Xuân T4 (bên bán); 02 (hai) Hợp đồng đặt cọc giữa Nguyễn Trần Hải L và anh Bùi Văn H ngày 17/8/2022; 01 (một) giấy ủy quyền số chứng thực 000933 ngày 09/8/2022 lưu theo hồ sơ vụ án.

- Đối với 01 (một) xe ô tô hiệu Cruze LTZ màu đỏ, biển số 60A - 914.52; kết quả tra cứu xe do anh Gịp Thành Q, sinh năm 1995 mua vào năm 2021 và đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký. Ngày 25/7/2022, anh Q đã bán chiếc xe trên cho Nguyễn Trần Hải L (thông qua hợp đồng ủy quyền công chứng tại Văn phòng C4,

địa chỉ tại: số H, khu F, QL1A, ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai), sau đó L mang giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 60A- 914.52 đi cầm cố tại Chi nhánh Công ty cổ phần K2 tại Tp., quá trình điều tra xác định ô tô hiệu Cruze LTZ màu đỏ, biển số 60A - 914.52 là tài sản hợp pháp của L và L sử dụng xe ô tô trên vào các ngày 17/8/2024, 29/8/2024 làm phương tiện phạm tội, do đó đề nghị Tòa án tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Đối với 01 thẻ ngân hàng M1 98574383; 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Trần Hải L; 01 điện thoại samsung Note 20 màu đen và các biểu mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất; không sử dụng vào việc phạm tội; quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của L nên Cơ quan điều tra trả lại cho L.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Bùi Văn H yêu cầu bị cáo Nguyễn Trần Hải L bồi thường số tiền 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng), bị cáo L chưa bồi thường (Bút lục số 135-136).

Đối với Phan Văn C3, Nguyễn Tiến Đ1, Nguyễn Văn H2, Cao Thị M, Nguyễn Đình T3, Thái Huỳnh Mộng N không biết việc L làm giả hợp đồng mua bán nhà (đất) nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản nên không có căn cứ để xử lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Qua xem xét lời khai của bị cáo Nguyễn Trần Hải L đã khai nhận thể hiện trong hồ sơ vụ án, cũng như lời khai của bị cáo tại phiên Tòa thống nhất với hành vi phạm tội theo như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, đã có đủ căn cứ kết luận:

Vào ngày 17/8/2022 tại khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, do nãy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên Nguyễn Trần Hải L đã có hành vi gian dối làm giả 01 giấy hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất tại thửa đất số 2729, tờ bản đồ số 5, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai giữa Nguyễn Trần Hải L (bên mua) và Nguyễn Xuân T4 (bên bán) nhằm mục đích làm cho anh Bùi Văn H tin tưởng thửa đất trên là của L để bán cho anh H một phần thửa đất trên và chiếm đoạt số tiền 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng) của anh H.

[2.2] Hành vi nêu trên của Nguyễn Trần Hải L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và đủ yếu tố

cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 điều 174 Bộ luật hình sự 2015.

[2.3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt vì không có tiền án, tiền sự. Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thể hiện sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[2.4] Về biện pháp tư pháp:

[2.4.1] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Bùi Văn H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã chiếm đoạt là 160.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh H. Do đó, ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo, buộc bị cáo L phải bồi thường cho anh H số tiền 160.000.000 đồng.

[2.4.2] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) giấy hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất đề ngày 08/6/2022 giữa Nguyễn Trần Hải L (bên mua) và Nguyễn Xuân T4 (bên bán); 02 (hai) Hợp đồng đặt cọc giữa Nguyễn Trần Hải L và anh Bùi Văn H ngày 17/8/2022; 01 (một) giấy ủy quyền số chứng thực 000933 ngày 09/8/202 là chứng cứ chứng minh hành vi pham tội của bị cáo nên cần phải lưu theo hồ sơ vụ án.

- Đối với 01 (một) điện thoại Iphone 13 promax, màu vàng và 01 hộp mực lăn tay là tài sản của bị cáo Nguyễn Trần Hải L, bị cáo L sử dụng liên lạc để thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản của anh H và dùng để lăn tay các hợp đồng đặt cọc.

- Đối với 01 (một) xe ô tô hiệu Cruze LTZ màu đỏ, biển số 60A - 914.52; kết quả tra cứu xe do anh Gịp Thành Q, sinh năm 1995 mua vào năm 2021 và đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký. Ngày 25/7/2022, anh Q đã bán chiếc xe trên cho Nguyễn Trần Hải L (thông qua hợp đồng ủy quyền công chứng tại Văn phòng C4, địa chỉ tại: số H, khu F, QL1A, ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai), sau đó L mang giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 60A- 914.52 đi cầm cố tại Chi nhánh Công ty cổ phần K2 tại Tp .. Như vậy, xác định chiếc ô tô hiệu Cruze LTZ màu đỏ, biển số 60A - 914.52 là tài sản hợp pháp của bị cáo L, ngày 17/8/2022 L đã sử dụng chiếc xe ô tô này làm phương tiện để đi thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản của anh H.

Do đó, căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại Iphone 13 promax, màu vàng và 01 (một) xe ô tô hiệu Cruze LTZ màu đỏ, biển số 60A - 914.52 là tài sản của hợp pháp bị cáo L sử dụng vào việc phạm tội. Tịch thu tiêu hủy 01 hộp mực lăn tay bị cáo dùng vào việc phạm tội.

[3] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 8.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về bồi thường thiệt hại.

[4] Nhận định ý kiến trình bày của kiểm sát viên và người tham gia tố tụng khác:

[4.1] Quan điểm đề nghị về tội danh truy tố, hình phạt và biện pháp tư pháp đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4.2] Yêu cầu của bị hại anh Bùi Văn H phù hợp qua định pháp luật và bị cáo đồng ý nên được Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4.3] Yêu cầu của đại diện công ty K2- ông Ngô Quốc C đề nghị công ty K2 được nhận lại tài sản là chiếc xe ô tô biển số 60A-914.52 để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cầm cố đã giao kết, là không phù hợp quy định pháp luật nên không được Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Bởi lẽ như đã nhận định nên trên, chiếc xe ô tô hiệu Cruze LTZ màu đỏ, biển số 60A - 914.52 là tài sản của hợp pháp bị cáo L, công ty K2 chỉ cầm cố giấy chứng nhận đăng ký xe còn xe ô tô bị cáo vẫn trực tiếp quản lý sử dụng. Ngày 16/8/2022 L nãy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên đã làm giả hợp đồng đặt cọc mua bán đất, đến ngày 17/8/2022 L đã sử dụng chiếc xe ô tô biển số 60A - 914.52 này làm phương tiện để thực hiện hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt của anh H số tiền 160.000.000 đồng. Do đó, căn cứ căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự thì chiếc xe ô tô biển số 60A-914.52 là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần Hải L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Hải L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2024 (nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2022 đến ngày 08/9/2022).

[2] Biện pháp tư pháp:

[2.1] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự 2015: Buộc bị cáo Nguyễn Trần Hải L phải bồi thường cho anh Bùi Văn H số tiền 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án đối với số tiền nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

[2.2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 promax màu vàng, khay sim có số seri 359456495249006 và 01 (một) xe ô tô hiệu Cruze LTZ màu đỏ, biển số 60A - 914.52, số khung RLLJA695EAH993187, SỐ MÁY F18D4072922KA.

Tịch thu tiêu hủy 01 hộp mực lăn tay.

(Vật chứng hiện đang ở Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai).

[2] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Trần Hải L phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm về bồi thường thiệt hại.

[3] Báo cho bị cáo, biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND huyện Trảng Bom;
  • - Chi cục THADS huyện Trảng Bom;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Hữu Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 59/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lùa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger