|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2025/HS-ST Ngày 13 - 11 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Giang Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Huệ và ông Phạm Tuấn Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 6 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị Q (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 22/7/1986 tại Hà Nội; Nơi cư trú: Số nhà A đường L kéo dài, tổ dân phố số A, phường L, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị H; Có chồng là Lê Công M và 04 con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 20/7/2025, ngày 29/7/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
2. Lê Công M (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 26/8/1982 tại Hà Nội; Nơi cư trú: Số nhà A đường L kéo dài, tổ dân phố số A, phường L, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn V1 và bà Nguyễn Thị Q1; Có vợ là Nguyễn Thị Q và 04 con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 20/7/2025, tạm giam từ ngày 29/7/2025 đến ngày 29/9/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn V1 và bà Nguyễn Thị Q1
Địa chỉ: Thôn Đ, xã D, thành phố Hà Nội. Có mặt.
Người làm chứng: Đỗ Thị H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 30 phút ngày 20/7/2025, tại khu vực đường D tổ A phường L, tỉnh Lào Cai, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L phát hiện bắt quả tang Lê Công M cùng vợ là Nguyễn Thị Q đang chở 06 bao tải, bên trong có 06 thùng bìa cát tông nghi là hàng hoá vi phạm pháp luật trên xe ô tô nhãn hiệu Volkswagen Tigua biển kiểm soát 24A-171.48. Quá trình kiểm tra thu giữ:
Thùng thứ 1: Bên trong có 68 hộp bìa màu vàng, trên mặt bìa có ký tự số “99” và dòng chữ “DACHONGJIU”, trong mỗi hộp có 10 bao nhỏ nghi là thuốc lá điếu, tổng cộng 680 bao, trên mỗi bao đều có ký tự số “99” và dòng chữ "DACHONGJIU".
Thùng thứ 2: Bên trong có 68 hộp bìa màu vàng, trên mặt bìa có ký tự số “99” và dòng chữ “DACHONGJIU”, trong mỗi hộp có 10 bao nghi là thuốc lá điếu, tổng cộng 680 bao, trên mỗi bao đều có ký tự số “99” và dòng chữ “DACHONGJIU”.
Thùng thứ 3: Bên trong có 75 hộp bìa màu đỏ, trên mặt có dòng chữ “CHUNGHWA CIGARETTES”, trong mỗi hộp có 10 bao nhỏ nghi là thuốc lá điếu, tổng cộng 750 bao, trên mỗi bao đều có dòng chữ “CHUNGHWA”.
Thùng thứ 4: Bên trong có 75 hộp bìa màu đỏ, trên mặt có dòng chữ “CHUNGHWA CIGARETTES”, trong mỗi hộp có 10 bao nhỏ nghi là thuốc lá điếu, tổng cộng 750 bao, trên mỗi bao đều có dòng chữ “CHUNGHWA”.
Thùng thứ 5: Bên trong có 92 hộp bìa màu vàng, trên mặt có dòng chữ “YUHUASHI FILTER CIGARETTES”, trong mỗi hộp có 10 bao nhỏ nghi là thuốc lá điếu, tổng cộng 920 bao, trên mỗi bao đều có dòng chữ “YUHUASHI FILTER CIGARETTES".
Thùng thứ 6: Bên trong có 92 hộp bìa màu vàng, trên mặt có dòng chữ “YUHUASHI FILTER CIGARETTES”, trong mỗi hộp có 10 bao nhỏ nghi là thuốc lá điếu, tổng cộng 920 bao, trên mỗi bao đều có dòng chữ “YUHUASHI FILTER CIGARETTES".
Tổng cộng thu giữ 4700 bao thuốc lá các loại, nghi là thuốc lá nhập lập. Ngoài ra thu giữ 02 điện thoại di động và 01 xe ô tô biển kiểm soát 24A-171.48.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Q và Lê Công M khai nhận: Ngày 18/7/2025 bị cáo Q liên hệ qua mạng xã hội wechat với người phụ nữ tên H2 có địa chỉ tại tỉnh Thái Bình (nay là tỉnh Hưng Yên). H2 nói với Q “có hàng đấy”, Q hiểu “hàng” là thuốc lá nhập lậu nên hỏi mua của H2 để bán lại kiếm lời, cả hai thống nhất H2 gửi hàng cho Q qua chuyển phát nhanh. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 20/7/2025, biết hàng đã đến nơi, Q nói với M “đi lấy hàng tại J&T T”, M hiểu là đi lấy hàng thuốc lá nhập lậu nên đồng ý. M điều khiển xe ô tô Volkswagen Tigua biển kiểm soát 24A-171.48 chở Q đến bưu cục J tại số D đường T, phường C, tỉnh Lào Cai để lấy hàng. Khi đế nơi, Q và M xuống xe cùng nhau bê 06 bao tải hàng ra để ở cốp xe. Sau đó M điều khiển xe cùng Q đi đến trước của số nhà C đường D tổ A phường L thì dừng xe gọi điện thoại và bị cơ quan công an phát hiện bắt quả tang.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ số thuốc lá này sẽ bán sang Trung Quốc bằng cách mang tới địa chỉ của Đỗ Thị H1 tại số nhà A H thuộc tổ D phường L để H1 vận chuyển sang Trung Quốc cho người mua. Trước đó từ tháng 5/2025 bị cáo Q đã một lần nhập thuốc lá điếu loại Chunghwa và D với số lượng 1160 bao, đã mang đến cho H1 vận chuyển. Cơ quan điều tra đã làm việc với Đỗ Thị H1, thu giữ 1.187 bao thuốc lá các loại, cụ thể:
Thuốc lá hiệu CHUNGHWA dẹt vỏ bao thuốc lá màu đỏ: 385 bao
Thuốc lá hiệu CHUNGHWA dẹt 26 cây tương ứng 260 bao
Thuốc lá hiệu CHUNGHWA loại to vỏ bao thuốc lá màu đỏ: 189 bao
Thuốc lá hiệu DACHONGJIU vỏ bao thuốc lá màu vàng: 199 bao
Thuốc lá hiệu Fupongwang vỏ bao màu bạc có kẻ vàng nhỏ ở các cạnh vỏ bao thuốc: 154 bao.
H1 khai bản thân thường xuyên vận chuyển thuốc lá bằng cách quấn thuốc lá vào người đi qua cửa khẩu Quốc tế L đến giao cho một người nam giới người Trung Quốc không rõ tên tuổi lai lịch. Từ đầu tháng 5/2025 đến ngày 18/6/2025 H1 đã nhận 116 cây thuốc lá (tương đương 1160 bao) do Q mang đến và đã vận chuyển sang Trung Quốc được một phần. Trong tổng số 1.187 bao thuốc lá bị thu giữ có 927 bao là do Q mang đến, còn lại 260 bao không biết của ai.
- Tại kết luận giám định số 5485/K1-KTHS ngày 22/7/2025 của V2 Bộ C kết luận:
Toàn bộ 680 bao thuốc lá (mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) đều mang nhãn hiệu “DACHONGJIU 99” đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt (ký hiệu M1) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “DACHONGJIU 99”.
Toàn bộ 680 bao thuốc lá (mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) đều mang nhãn hiệu “DACHONGJIU 99” đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt (ký hiệu M2) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “DACHONGJIU 99”.
Toàn bộ 750 bao thuốc lá (mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) đều mang nhãn hiệu “CHUNGHWA CIGARETES” đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt (ký hiệu M3) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “CHUNGHWA CIGARETES”.
Toàn bộ 750 bao thuốc lá (mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) đều mang nhãn hiệu “CHUNGHWA CIGARETES” đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt (ký hiệu M4) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “CHUNGHWA CIGARETES”.
Toàn bộ 920 bao thuốc lá (mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) đều mang nhãn hiệu “YUHUASHI FILTER CIGARETTES” đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt (ký hiệu M5) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “YUHUASHI FILTER CIGARETTES”.
Toàn bộ 920 bao thuốc lá (mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) đều mang nhãn hiệu “YUHUASHI FILTER CIGARETTES” đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt (ký hiệu M6) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “YUHUASHI FILTER CIGARETTES”.
Tất cả các mẫu thuốc lá gửi giám định trên đều là thuốc lá điếu không đủ điều kiện để nhập khẩu lưu thông trên thị trường Việt Nam. Tất cả các mẫu thuốc lá gửi giám định trên đều là thuốc lá điếu không được Việt Nam sản xuất để tiêu thụ tại Việt Nam.
- Tại kết luận giám định số 5486/K1-KTHS ngày 22/7/2025 của V2 Bộ C kết luận:
Toàn bộ 385 bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc) đều mang nhãn hiệu “CHUNGHWA” loại dẹt, vỏ bao thuốc lá màu đỏ, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt (ký hiệu A1) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “CHUNGHWA”.
Toàn bộ 260 bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc) đều mang nhãn hiệu “CHUNGHWA” loại dẹt, vỏ bao thuốc lá màu đỏ, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt (ký hiệu A2) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “CHUNGHWA”.
Toàn bộ 189 bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc) đều mang nhãn hiệu “CHUNGHWA” loại dẹt, vỏ bao thuốc lá màu đỏ, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt (ký hiệu A3) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “CHUNGHWA”.
Toàn bộ 199 bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc) đều mang nhãn hiệu “DACHONGJIU 99” vỏ bao thuốc lá màu vàng, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt (ký hiệu A4) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “DACHONGJIU 99”.
Toàn bộ 154 bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc) đều mang nhãn hiệu “Fupongwang” vỏ bao thuốc màu bạc có kẻ vàng nhỏ ở các cạnh vỏ bao thuốc, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt (ký hiệu A5) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu "Fupongwang".
Tất cả các mẫu thuốc lá gửi giám định trên đều là thuốc lá điếu không đủ điều kiện để nhập khẩu lưu thông trên thị trường Việt Nam. Tất cả các mẫu thuốc lá gửi giám định trên đều là thuốc lá điếu không được Việt Nam sản xuất để tiêu thụ tại Việt Nam.
Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKSBT ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Thị Q, Lê Công M về tội "Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Q và Lê Công M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không đề nghị gì. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Lào Cai giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Q, Lê Công M phạm tội "Buôn bán hàng cấm”. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17, 58, 35 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Q từ 1.300.000.000₫ đến 1.400.000.000đ. Xử phạt bị cáo Lê Công M từ 1.200.000.000₫ đến 1.300.000.000₫.
Vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Iphone XS Max của bị cáo Lê Công M, 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro Max của bị cáo Nguyễn Thị Q, 01 xe ô tô nhãn hiệu Volkswagen Tiguan biển số 24A-171.48 màu trắng, số tiền 20.000.000đ thu lời bất chính do bị cáo Nguyễn Thị Q nộp. Đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 06 thùng bìa cát tông chứa thuốc lá điếu nhập lậu thu giữ của bị cáo Q và M; 05 thùng bìa cát tông chứa thuốc lá điếu nhập lậu thu giữ của Đỗ Thị H1; Thẻ nhớ 32GB lắp trong camera hành trình của xe ô tô. Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án số tiền các bị cáo đã tự nguyện nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai gồm số tiền 600.000.000đ do bị cáo Q nộp và số tiền 500.000.000₫ do bị cáo M nộp. Đề nghị tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với quy định của pháp luật.
[2]. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thị Q và Lê Công M khai nhận các bị cáo đã nảy sinh ý định mua thuốc lá điếu nhập lậu bán lại kiếm lời từ tháng 5/2025 và đã mua được 1160 bao thuốc lá nhập lậu bán sang Trung Quốc. Ngày 18/7/2025 các bị cáo đã mua 4700 bao thuốc lá điếu các loại mục đích để bán sang Trung Quốc, đến ngày 20/7/2025 các bị cáo nhận được hàng thì bị bắt quả tang. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy tổng số lượng thuốc lá điếu nhập lậu các bị cáo đã buôn bán là 5.860 bao, do đó hành của các bị cáo đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự.
[3]. Bị cáo Nguyễn Thị Q và Lê Công M là người có năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật song bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện. Bị cáo hiểu rất rõ mặt hàng thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm không được lưu thông trên thị trường Việt Nam nhưng các bị cáo vẫn buôn bán để kiếm lời. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn trong đó bị cáo Q là người chủ mưu khởi xướng, trực tiếp đi lấy hàng và bán hàng nên bị cáo giữ vai trò chính. Bị cáo M tuy không tham gia mua bán hàng nhưng biết rõ bị cáo Q buôn bán hàng cấm, bị cáo đã lái xe ô tô chở bị cáo Q đi lấy thuốc lá về để bán nên bị cáo phải chịu trách nhiệm với vai trò giúp sức. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng tới trật tự sản xuất kinh doanh nên cần phải xử lý nghiêm minh.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo. Sau khi phạm tội bị cáo Q và M đã có hành động giúp Đồn biên phòng Trịnh Tường tỉnh L1 phát hiện tội phạm và khởi tố vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý ngày 26/7/2025, hành động của các bị cáo được xác định là lập công chuộc tội. Vì vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là lập công chuộc tội theo điểm s, u khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Q có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, bị cáo M có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Trước thời điểm phạm tội bị cáo M và Q đã nhiều lần ủng hộ các hộ dân tại xã D, thành phố Hà Nội được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã D xác nhận. Bản thân bị cáo Q sau khi phạm tội đã có hành động quyên góp ủng hộ nhân dân bị ảnh hưởng lũ lụt được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xa M1, tỉnh Nghệ An xác nhận. Quá trình điều tra vụ án các bị cáo đã tự nguyện nộp lại tiền thu lời bất chính. Do đó các bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích trên nhận thấy các bị cáo Q và M đều không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong đó có 02 tình tiết tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy đủ căn cứ để án dụng Điều 54 Bộ luật hình sự với các bị cáo, quyết định xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Ngoài ra căn cứ kết quả xác minh thì các bị cáo có tài sản, xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng hình phạt tiền với các bị cáo cũng đủ đảm bảo tính răn đe, giáo dục và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội có thái độ ăn năn hối cải, tích cực sửa chữa sai lầm và lập công sau khi phạm tội.
[5]. Các vấn đề có liên quan trong vụ án: Theo bị cáo Q khai bị cáo mua thuốc lá của người phụ nữ tên H2, liên lạc qua mạng xã hội wechat. Quá trình điều tra, thu thập dữ liệu thông tin điện tử, xác minh số điện thoại người gửi thì không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người phụ nữ này. Ngoài ra cơ quan điều tra cũng không xác định được tên tuổi những người mua thuốc lá của bị cáo Q nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý. Đối với Đỗ Thị H1 là người đã có hành vi vận chuyển 1360 bao thuốc lá điếu nhập lậu. Hành vi của H1 chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính là đúng quy định. Đối với Bưu cục J tại số D T, phường C tỉnh Lào Cai và Bưu cục J tại xã L, tỉnh Hưng Yên là địa điểm giao nhận hàng. Quá trình điều tra xác định 02 bưu cục trên không liên quan đến hành vi vi phạm của các bị cáo
[6]. Vật chứng của vụ án:
Quá trình bắt quả tang cơ quan công an đã thu giữ của bị cáo Q và M 06 thùng bìa cát tông (được ký hiệu từ M1 đến M6) chứa tổng cộng 4.700 bao thuốc lá nhập lậu. Quá trình làm việc với Đỗ Thị H1 đã thu giữ 1187 bao thuốc lá nhập lậu các loại, được niêm phong trong 5 thùng cát tông (ký hiệu từ A1 đến A5). Cơ quan giám định đã sử dụng một phần, niêm phong hoàn lại theo quy định. Xét thấy đây là vật chứng thuộc diện cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ. Ngoài ra có thu giữ thẻ nhớ dung lượng 32GB gắn trên Camera hành trình của xe ô tô 24A-171.48 không còn giá trị sử dụng cũng cần tịch thu tiêu huỷ.
Quá trình điều tra đã thu giữ của bị cáo Q điện thoại di động Iphone 14 Pro max, thu giữ của bị cáo M điện thoại di động Iphone XS Max. Xét thấy các bị cáo đã sử dụng điện thoại liên lạc trao đổi việc buôn bán hàng cấm nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Bị cáo Q tự khai nhận khi buôn bán hàng cấm đã thu lời được 20.000.000đ và tự nguyện nộp lại số tiền 20.000.000đ, xét thấy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Cơ quan điều tra thu giữ 01 xe ô tô nhãn hiệu Volkswagen Tiguan biển số 24A-171.48 màu trắng bị cáo M và Q đã sử dụng để chở các bao tải chứa thuốc lá nhập lậu. Ông Lê Văn V1 và bà Nguyễn Thị Q1 là bố mẹ đẻ bị cáo M cho rằng chiếc xe là tài sản của ông bà nhờ bị cáo M đứng tên hộ, ông bà đề nghị được nhận lại xe. Tuy nhiên xét thấy chiếc xe có đăng ký xe mang tên Lê Công M, tại phiên toà ông V1 và bà Q1 khai ông bà cho vợ chồng bị cáo M tiền để mua xe và không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh chiếc xe là tài sản của ông bà. Do đó Hội đồng xét xử xác định chiếc xe thuộc sở hữu chung của bị cáo M và Q, các bị cáo sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Ngoài ra sau khi bị truy tố các bị cáo đã tự nguyện nộp tiền tại Cơ quan thi hành án dân sự, cụ thể bị cáo Q tự nguyện nộp 600.000.000đ, bị cáo M tự nguyện nộp 500.000.000đ. Vì vậy cần tiếp tục tạm giữ số tiền các bị cáo đã nộp để đảm bảo thi hành án.
[7]. Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tại phiên toà bị cáo không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ông Lê Văn V1 và bà Nguyễn Thị Q1 đề nghị được nhận lại xe ô tô, nhận thấy ông bà không có căn cứ chứng minh chiếc xe ô tô thuộc sở hữu của mình nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Q và Lê Công M phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17, 58, 35 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Q 1.300.000.000đ (Một tỷ ba trăm triệu đồng) sung quỹ nhà nước.
Xử phạt bị cáo Lê Công M 1.200.000.000đ (Một tỷ hai trăm triệu đồng) sung quỹ nhà nước.
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
+ 01 điện thoại di động Iphone XS Max, số IMIE 358737092710248, đã qua sử dụng thu của bị cáo Lê Công M, lưng điện thoại bị vỡ.
+ 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro Max số IMEI 353266542330410, đã qua sử dụng thu của bị cáo Nguyễn Thị Q
+ 01 xe ô tô nhãn hiệu Volkswagen Tiguan biển số 24A-171.48 màu trắng, số khung WVGZZZ5NZLM179234, số máy DGV026851, dung tích xi lanh 1984cm³. Đăng ký xe mang tên Lê Công M.
+ Số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) do bị cáo Nguyễn Thị Q nộp theo giấy nộp tiền mặt ngày 08/9/2025 vào tài khoản số 8689986999 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L mở tại Phòng G Kho bạc Nhà nước Khu vực IX.
- Tịch thu tiêu huỷ:
+ 01 thùng bìa cát tông ký hiệu M1 đã được niêm phong, bên trong có 510 bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc) đều mang nhãn hiệu "DACHONGJIU 99".
+ 01 thùng bìa cát tông ký hiệu M2 đã được niêm phong, bên trong có 510 bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc) đều mang nhãn hiệu "DACHONGJIU 99".
+ 01 thùng bìa cát tông ký hiệu M3 đã được niêm phong, bên trong có 560 bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc) đều mang nhãn hiệu "Chunghwa CIGARETTES”.
+ 01 thùng bìa cát tông ký hiệu M4 đã được niêm phong, bên trong có 560 bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc) đều mang nhãn hiệu "Chunghwa CIGARETTES”.
+ 01 thùng bìa cát tông ký hiệu M5 đã được niêm phong, bên trong có 690 bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc) đều mang nhãn hiệu "Yuhuashi FILTER CIGARETTES".
+ 01 thùng bìa cát tông ký hiệu M6 đã được niêm phong, bên trong có 690 bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc) đều mang nhãn hiệu "Yuhuashi FILTER CIGARETTES".
+ 01 thùng bìa cát tông ký hiệu A1 đã được niêm phong, bên trong có 289 bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc) đều mang nhãn hiệu “CHUNGHWA” loại dẹt, vỏ bao thuốc lá màu đỏ.
+ 01 thùng bìa cát tông ký hiệu A2 đã được niêm phong, bên trong có 200 bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc) đều mang nhãn hiệu “CHUNGHWA” loại dẹt, vỏ bao thuốc lá màu đỏ.
+ 01 thùng bìa cát tông ký hiệu A3 đã được niêm phong, bên trong có 142 bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc) đều mang nhãn hiệu “CHUNGHWA” loại dẹt, vỏ bao thuốc lá màu đỏ.
+ 01 thùng bìa cát tông ký hiệu A4 đã được niêm phong, bên trong có 149 bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc) đều mang nhãn hiệu “DACHONGJIU 99” vỏ bao thuốc lá màu vàng.
+ 01 thùng bìa cát tông ký hiệu A5 đã được niêm phong, bên trong có 115 bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc) đều mang nhãn hiệu “FUPONGWANG” vỏ bao thuốc lá màu bạc có kẻ vàng nhỏ ở các cạnh vỏ bao thuốc lá.
+ 01 bì thư niêm phòng bên trong là một thẻ nhớ hiệu VIETMAP dung lượng 32GB lắp trong camera hành trình của xe ô tô 24A-171.48.
Vật chứng đã được bàn giao cho Phòng thi hành án dân sự Khu vực 6 Lào Cai theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/10/2025.
- Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án số tiền các bị cáo đã tự nguyện nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai gồm: Số tiền 600.000.000đ (Sáu trăm triệu đồng) bị cáo Nguyễn Thị Q đã nộp theo biên lai số 000299 ngày 27/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai; Số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) bị cáo Lê Công M đã nộp theo biên lai số 000298 ngày 27/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Q và Lê Công M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Giang Thanh |
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Thị Giang Thanh |
Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 13/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI về hình sự sơ thẩm (buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 59/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Q, Lê Công M - Buôn bán hàng cấm
