Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HS-ST

Ngày: 13/6/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HOÀ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Liễu;

Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tuất;

Bà Nguyễn Thị Thanh;

Ông Đoàn Minh Long.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Xuân Thiện – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-HS ngày 26/4/2025 đối với bị cáo:

Bùi Thanh T, sinh ngày 25 tháng 9 năm 1980 tại Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn M, xã B, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1957 (đã chết) và bà Lê Thị Bích L, sinh năm 1959.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/7/2024.

Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn H – Luật sư của Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn H, thuộc Đoàn luật sư tỉnh K.

Có mặt.

* Bị hại: Ông Nguyễn L1, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Thôn S, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị Bích L, sinh năm 1959; Nơi cư trú: Thôn M, xã B, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
  2. Bà Lý Gia K (Lý Thị T1), sinh năm 1989; Nơi cư trú: Số A M, xã V, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Q, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Khu phố N, xã S, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
  2. Ông Trần Văn T2, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn S, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  3. Ông Cao Minh Q1, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn S, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  4. Bà Cao Thị B, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Thôn S, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Thanh T và Nguyễn L1 đến huyện C, tỉnh Khánh Hòa làm thuê và được anh Trần Văn T2 cho ở nhờ tại nhà mẹ vợ mình là bà Cao Thị B tại thôn S, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.

Khoảng 16 giờ ngày 18/7/2024, T2, T và L1 tổ chức uống bia tại nhà bà B. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày thì cả ba dừng uống bia. Lúc này, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12P1-8553 chở T2 và L1 đến lán trại trên ruộng dưa hấu của T2 ở cùng thôn để ngủ. Trong lúc ngủ, do T ngáy to nên L1 không ngủ được và đã chửi T. Bức xúc vì bị L1 chửi nên T3 điều khiển xe mô tô chạy về nhà bà B lấy 01 con dao (lưỡi kim loại dài khoảng 18cm, cán nhựa màu trắng dài khoảng 13cm, có vỏ bọc bằng nhựa màu đen) để đánh L1. Khi đến cách lán trại khoảng 40m, T gặp L1 đang đứng trên đường bê tông liên thôn. T đi đến cãi nhau với L1 và bất ngờ rút dao giấu trong người đâm một nhát trúng vào vùng ngực phải của L1 làm lưỡi dao bị gãy dính vào vết thương. Sau đó, T điều khiển xe mô tô bỏ trốn, còn L1 chạy về lán trại gọi T2 đưa đi Bệnh viện Đa khoa tỉnh K cấp cứu.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 349/24/KLTTCT-PYKH ngày 23/7/2024 của Trung tâm Pháp y Sở Y kết luận:

  • Vùng ngực phải có 01 vết thương kích thước trung bình, tỷ lệ thương tật 02%.
  • Vùng ngực phải đến đường nách phải có 01 vết thương kích thước trung bình, tỷ lệ thương tật 02%.
  • Đường nách phải có 01 vết thương kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật 01% (sẹo dẫn lưu).
  • Vết thương thùy trên nhu mô phổi phải có phẫu thuật, tỷ lệ thương tật 10%.
  • Tổn thương màng phổi phải có phẫu thuật, tỷ lệ thương tật 05%.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Lâm T4 thời điểm giám định là 19%.

Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích do ngoại lực tác động, tác nhân vật sắc nhọn, thương tích nêu trên của Nguyễn Lâm nguy H1 đến tính mạng.

Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKSKH-P1 ngày 06/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Bùi Thanh T về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã giữ nguyên kết luận truy tố bị cáo Bùi Thanh T về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 15, khoản 1 Điều 54 và Điều 57 Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo Bùi Thanh T từ 08 đến 10 năm tù. Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
  • Luật sư phát biểu lời bào chữa cho bị cáo: Hoàn toàn thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố. Tuy nhiên, mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị quá cao, do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với những lí do sau: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có sử dụng rượu bia nên không kiểm soát được hành vi của mình. Ngoài ra, trình độ hiểu biết pháp luật kém, bị cáo đã thành khẩn khai báo và bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, được bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết phạm tội chưa đạt theo Điều 15 Bộ luật hình sự, tuyên mức án nhẹ hơn mức án mà Viện kiểm sát đề nghị.
  • Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • Bị hại vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại (có đơn xin xét xử vắng mặt), người làm chứng, người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Xét thấy những người này đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi tố tụng của những người tiến hành tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, luật sư bào chữa cho các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Theo cáo trạng truy tố cho thấy, tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ để xác định: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 18/7/2024, tại lán trại trên ruộng dưa hấu của anh Trần Văn T2 ở thôn S, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa, Bùi Thanh T đã sử dụng 01 (một) con dao lưỡi bằng kim loại dài khoảng 18cm, cán nhựa màu trắng dài khoảng 13cm, có vỏ bọc bằng nhựa màu đen đâm 01 (một) nhát vào vùng ngực phải của Nguyễn Lâm G tổn thương cơ thể với tỷ lệ là 19%.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo:

Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính côn đồ hung hãn, đã trực tiếp xâm phạm đến thân thể, sức khỏe và tính mạng của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương.

[5] Xét về nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường cho bị hại, được bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần phải áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo còn được áp dụng tình tiết phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15 Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên, khi căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và hậu quả thương tích mà bị cáo gây ra, bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, tuyên dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội và thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại không yêu cầu nên không xem xét; Người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nên cần tách ra giải quyết riêng khi có yêu cầu.

[7] Về vật chứng vụ án:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bao nhựa màu đen kích thước (17,5x3)cm; 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 13cm, bản rộng 02 cm, mũi nhọn; Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên trả cho bà Lê Thị Bích L 01 (một) xe máy Atilla SYM biển kiểm soát 12P1-8553, số máy VTBAD057420, số khung 12GDA057420.

Vật chứng trên đều được giao nhận theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.

[8] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào:

Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 15, Điều 54 và Điều 57 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Thanh T.

[2] Xử phạt:

Bị cáo Bùi Thanh T 08 (T5) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù được tính từ ngày 19/7/2024.

[3] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại không yêu cầu nên không xem xét; Người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nên cần tách ra giải quyết riêng khi có yêu cầu.

[4] Về vật chứng vụ án:

  • Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bao nhựa màu đen kích thước (17,5x3)cm; 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 13cm, bản rộng 02 cm, mũi nhọn.
  • Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên trả cho bà Lê Thị Bích L 01 (một) xe máy Atilla SYM biển kiểm soát 12P1-8553, số máy VTBAD057420, số khung 12GDA057420.

Vật chứng trên đều được giao nhận theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.

[5]Về án phí:

Áp dụng Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

* Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ- Công an tỉnh K. Hòa;
  • - CQCSĐT - Công an tỉnh K. Hòa;
  • - CQ Thi hành án hình sự -Công an tỉnh K.Hòa;
  • - Cục THADS tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - Vụ GĐKT1 - TAND tối cao;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ; Án văn; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Bích Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự (giết người)

  • Số bản án: 59/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thanh Tú giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger