|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2025/HS-ST Ngày: 10/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: ông Bùi Đức Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thanh Nhàn
bà Nguyễn Thị Hảo
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Bùi Đình Thi, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại phòng xử án số 01 trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
A (tên gọi khác: không); sinh ngày 30/9/1990, tại: M, Quảng Ninh; nơi đăng ký thường trú: thôn H, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: khu B, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đoàn Văn T và bà Hoàng Thị H; vợ: Phạm Thị N (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 27/8/2015, Toà án nhân dân thành phố Móng Cái xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; Ngày 19/10/2015, thi hành xong án phí hình sự; Ngày 31/8/2016 chấp hành xong hình phạt tù; bị cáo bị bắt quả tang ngày 09/11/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q - có mặt.
B (tên gọi khác: không); sinh ngày 06/3/1987, tại: M, Quảng Ninh; nơi cư trú: khu T, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trung Ngọc L và bà Lương Thị T1; vợ: Nguyễn Mai C; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 10/11/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q - có mặt.
- Người làm chứng: Đỗ Văn Đ, Trà Thị L1, Lê Công V - đều vắng mặt.
- Người chứng kiến: Vũ Đức T2, Lê Văn H1 - đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Văn T3 và Trung Thế H2 quen biết nhau từ khoảng đầu tháng 09/2024 và có nhiều lần cùng nhau sử dụng ma tuý Methamphetamine (ma tuý “đá”). Khoảng đầu tháng 10/2024, T3 và H2 đã bàn bạc, thống nhất với nhau T3 sẽ thuê 01 ngôi nhà để cả hai cùng kinh doanh quán bia. Sau đó, T3 đã tìm thuê được 01 ngôi nhà của anh Đỗ Văn Đ ở gần cổng khu công nghiệp H, thuộc khu B, phường H, thành phố M với giá 03 triệu đồng/01 tháng. H2 đã đưa cho T3 09 triệu đồng để trả 03 tháng tiền nhà. Sau khi thuê được nhà, do chưa kinh doanh ngay, đồng thời cả hai đều có nhu cầu sử dụng ma tuý nên T3 và H2 thống nhất sử dụng ngôi nhà này để cùng sử dụng ma tuý. Do không có công việc, thu nhập nên T3 nảy sinh ý định mỗi khi có nhu cầu sử dụng ma tuý, T3 sẽ bảo H2 chuyển tiền cho T3 rồi T3 đi mua ma tuý với số tiền thấp hơn để hưởng chênh lệch mà không nói cho H2 biết. Từ ngày 31/10/2024, T3 đã 03 lần liên hệ mua ma tuý của 01 người đàn ông tên D, nhà ở thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, cụ thể:
- Lần 1: Vào đêm ngày 31/10/2024, H2 chuyển khoản cho T3 7.500.000 đồng. T3 liên hệ với D đặt mua 6.500.000 đồng ma tuý Methamphetamine (ma tuý “đá”), T3 trả tiền cho D qua tài khoản ngân hàng mang tên Trà Thị L1. Chiều ngày 01/11/2024, tại khu vực cổng chào H, thuộc khu B, phường H, thành phố M T3 nhận được 01 hộp chè, bên ngoài ghi số điện thoại của T3, nơi nhận là khu Công nghiệp Hải Yên, thành phố Móng Cái từ 01 xe khách không quen biết. Sau khi mở hộp thấy khoảng hơn 02 gam ma tuý Methamphetamine, Thắng đem về phòng trọ cùng với Hồng sử dụng hết. Số tiền 1.000.000 đồng chênh lệch, Thắng đã chi tiêu cá nhân hết.
- Lần 2 và lần 3: Vào ngày 06/11/2024, Thắng và Hồng thống nhất mua 4.000.000 đồng ma tuý “đá”, nhưng do thiếu tiền, Hồng chỉ chuyển cho Thắng 1.800.000 đồng và bảo lần sau mua sẽ trả nốt. Sau đó, Thắng đã chuyển tiền cho Dũng nói mua 04 triệu đồng tiền ma tuý, chuyển trước 1.500.000 đồng, còn lại 2.500.000 đồng sẽ chuyển sau. Trưa này 07/11/2024, Thắng nhận ma tuý theo hình thức gửi xe khách như lần trước. Sau đó, Thắng mang về phòng trọ, đổ 01 nửa số ma tuý ra bộ dụng cụ sử dụng cùng với Hồng dùng hết. Đến trưa ngày 08/11/2024, Thắng đổ nốt số ma tuý còn lại vào bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, còn lại một ít ma tuý dính trong túi nilon, Thắng nhét vào vỏ bao thuốc lá và để trên bàn uống nước. Đến chiều ngày 08/11/2024, có bạn của Hồng là Lê Công Vũ từ thành phố Hạ Long ra chơi. Tại nhà trọ, Hồng, Vũ, Thắng luân phiên sử dụng ma tuý đã có sẵn trong nõ. Đến trưa ngày 09/11/2024, cả ba lại tiếp tục sử dụng ma tuý cùng với nhau. Thấy sắp hết ma tuý, Hồng bảo Thắng mua thêm ma tuý về để sử dụng. Hồng chuyển khoản cho Thắng 7.500.000 đồng. Thắng liên hệ với Dũng đặt mua 4.000.000 đồng để hưởng chênh lệch 3.500.000 đồng. Sau đó, Thắng chuyển trả 4.000.000 đồng tiền mua ma tuý và trả nợ 2.500.000 triệu đồng của lần trước. Số tiền 300.000 đồng chênh lệch của lần mua thứ hai và 1.000.000 đồng của lần mua thứ ba, Thắng đã chi tiêu cá nhân hết.
Đến 21 giờ ngày 09/11/2024, tại khu vực cổng chào Hải Yên thuộc khu 2, phường Hải Yên, thành phố Móng Cái, khi Thắng ra nhận ma tuý thì bị lực lượng Công an tỉnh Quảng Ninh bắt quả tang Thắng đang nhận 01 gói hàng từ xe ô tô khách. Khi kiểm tra, Thắng đã vứt gói hàng vào bụi cây gần đó nhưng đã bị phát hiện, thu giữ. Kiểm tra gói hàng (01 hộp các tông hình chữ nhật kích thước (14x8x4)cm, một mặt hộp được dán giấy bên ngoài ghi “0375.756.790 Khu Công Nghiệp Hải Yên km7 Móng Cái”) bên trong có: 01 túi nilon kích thước khoảng (5x4)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý. Ngoài ra còn thu của Thắng 02 chiếc điện thoại di động (01 chiếc nhãn hiệu Nokia gắn sim số: 0357.756.790 và 01 chiếc nhãn hiệu Oppo, gắn sim số: 0982.600.806).
Hồi 01 giờ 30 phút ngày 10/11/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đoàn Văn Thắng tại ngôi nhà ở khu 2, phường Hải Yên, thành phố Móng Cái. Tại thời điểm khám xét, trong nhà trọ có mặt Trung Thế Hồng và Lê Công Vũ, sinh năm 1984, trú tại tổ 2, khu 4, phường Trần Hưng Đạo, Hạ Long.
Phát hiện, thu giữ trên mặt bàn uống nước tầng 02:
- + 01 túi nilon hàn ngang túi (kí hiệu M1) và 02 túi nilon kích thước lần lượt (4x5,5)cm và (4x7)cm (kí hiệu M2, M3), bên trong đều dính chất màu trắng dạng vết.
- + 01 ống hút bằng nhựa màu trắng, một đầu cắt vát, dài 06cm, thành bên trong của ống hút có bám dính chất tinh thể màu trắng, nghi là ma tuý; (kí hiệu M4)
- + 01 ống hút nhựa màu đen dài 7,5cm, một đầu cắt vát, trong thành ống dính chất màu trắng dạng vết; (kí hiệu M5)
- + 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu đỏ được đục hai lỗ, trong đó một lỗ gắn ống nhựa màu vàng - đen dài 30cm và lỗ còn lại gắn một ống thuỷ tinh dài 12,5cm, một đầu uốn cong có bầu tròn, trong ống thuỷ tinh dính chất màu trắng dạng vết (kí hiệu M6);
- + 01 chai nhựa màu trắng – đỏ, nắp chai màu vàng được đục hai lỗ, trong đó một lỗ gắn ống nhựa màu vàng dài 25cm và lỗ còn lại gắn một ống thuỷ tinh dài 13cm, một đầu uốn cong có bầu tròn, trong ống thuỷ tinh dính chất màu trắng dạng vết (kí hiệu M7);
- + 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng;
- + 02 bật lửa gas, đã qua sử dụng;
Thu giữ trên cạnh cửa sổ phòng uống nước tầng 2:
- + 01 hộp bìa các tông hình hộp chữ nhật màu vàng, kích thước (20x12x8)cm, một mặt hộp có dán giấy bị xé rách, trên tờ giấy ghi: “Người nhận: 0357756790 khu công nghiệp Hải Yên km7 Móng Cái”;
- + 01 hộp bìa các tông hình hộp chữ nhật màu trắng - xanh, kích thước (15x18x23)cm, một mặt hộp có dán giấy ghi: “Người nhận 0357756790 khu công nghiệp Hải Yên km7 Móng Cái”;
- + 01 hộp bìa các tông hình hộp chữ nhật màu nâu, kích thước (28x10x5)cm, bên ngoài có ghi chữ nước ngoài;
- + 03 đoạn ống hút màu xanh dài 20cm;
- + 01 đoạn ống hút màu cam dài 20cm;
- + 01 ống thủy tinh dài 15cm, một đầu có bầu tròn;
Thu giữ tại khu vực để xe tầng 1:
- + 01 xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Xpander GLP màu đen, số máy: 4A91KBC7294, số khung: MK2LRNC1WNN016756, gắn biển số 14A-734.54.
- + 01 căn cước công dân mang tên Trung Thế Hồng.
- + 01 xe máy nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen bạc, số máy: JF63E1451125, số khung: RLHJF6309FZ451630, gắn biển số 14K1-158.14.
- + 01 căn cước công dân mang tên Đoàn Văn Thắng.
Cùng ngày, căn cứ tài liệu điều tra ban đầu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trung Thế Hồng, tạm giữ của Hồng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu xanh, đã qua sử dụng, gắn sim 0931.281.986 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu xanh, đã qua sử dụng, gắn sim 0829.588.104;
Tiến hành thu mẫu nước tiểu của Đoàn Văn Thắng, Trung Thế Hồng và Lê Công Vũ;
Bản Kết luận giám định số 1743 ngày 14/11/2024 và số 1747, 1748 ngày 16/11/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật thu giữ khi bắt quả tang Đoàn Văn Thắng ngày 09/11/2024 là ma tuý; loại Methamphetamine, khối lượng 4,795 gam; Mẫu vật ký hiệu từ M1 đến M7 gửi giám định là Methamphetamine, dạng vết, không xác định được khối lượng; Tìm thấy chất ma tuý loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Lê Công Vũ, Trung Thế Hồng và Đoàn Văn Thắng.
Quá trình điều tra, Đoàn Văn Thắng và Trung Thế Hồng khai nhận hành vi phạm tội như trên. Trung Thế Hồng khai nhận không biết việc Đoàn Văn Thắng mua ma tuý không đúng số tiền Hồng chuyển để hưởng lợi như trên.
Vật chứng, đồ vật, tài sản trong vụ án:
- - Chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Xpander GLP màu đen, gắn biển số 14A-734.54 thuộc sở hữu hợp pháp của chị Nguyễn Mai Chung, sinh năm 1989, trú tại: Khu Tràng Lộ, phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái. Trung Thế Hồng đã mượn chiếc xe ô tô trên của chị Chung từ ngày 09/11/2024 và không sử dụng chiếc xe này vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Chung.
- - Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen bạc, gắn biển số 14K1-158.14 thuộc sở hữu hợp pháp của anh Đoàn Văn Trường, sinh năm 1997, trú tại: Thôn 8, xã Hải Đông, thành phố Móng Cái. Đoàn Văn Thắng đã mượn chiếc xe máy trên của anh Trường từ tháng 10/2024 nhưng không sử dụng chiếc xe này vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Trường.
- - Số ma tuý hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ vật chứng còn lại, điện thoại thu giữ và 02 căn cước công dân tạm giữ của Đoàn Văn Thắng, Trung Thế Hồng, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái quản lý theo quy định.
- - Người làm chứng anh Đỗ Văn Điệp, Vũ Đức Thành, Lê Văn Hảo, Lê Công Vũ và chị Trà Thị Loan trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện như nội dung vụ án.
- - Anh Lê Công Vũ vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai trong quá trình điều tra phù hợp lời khai của các bị can về diễn biến. Sáng ngày 08/11/2024, Vũ được Hồng liên lạc rủ ra Móng Cái chơi và có ma tuý đá để sử dụng. Vũ đồng ý và đón xe khách từ Hạ Long đến Móng Cái. Sau đó, Hồng nói nhờ Thắng đón Vũ. Khi đến Móng Cái, Thắng đón Vũ ở cổng khu công nghiệp Hải Yên. Vũ được
Thắng dẫn vào nhà trọ, lên tầng 02 (lúc này không có Hồng). Ngồi chơi 01 lúc thì Thắng cầm bộ dụng cụ có sẵn ma tuý đã rồi châm lửa sử dụng trước rồi để lại bàn uống nước. Sau đó, Vũ tự cầm dụng cụ và châm lửa sử dụng. Một lúc sau Hồng về, cả ba lần lượt sử dụng tiếp ma tuý đá xong thì Hồng về nhà ở Trà Cổ, còn Vũ và Thắng ngủ ở tầng 2. Đến trưa ngày 09/11/2024, Hồng quay lại nhà trọ, cả ba ăn cơm xong rồi tiếp tục sử dụng ma tuý vẫn còn từ hôm trước. Đến tối cùng ngày, Thắng đi ra ngoài. Khoảng 1 giờ 30 phút ngày 10/11/2024, khi Vũ và Hồng đang ở nhà trọ thì bị kiểm tra, khám xét, thu giữ vật chứng như trên.
Bản cáo trạng số: 879/CT-VKSMC ngày 26/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Đoàn Văn Thắng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trung Thế Hồng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: các bị cáo khai lại toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và quá trình điều tra.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị với Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Văn Thắng từ 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Thắng phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ 15 (mười lăm) năm tù đến 16 (mưới sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/11/2024.
- - Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trung Thế Hồng từ 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù đến 07 (bẩy) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 24 (hai mươi tư) tháng tù đến 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hồng phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ từ 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù đến 10 (mười) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/11/2024.
- - Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
- + Tịch thu sung ngân sách nhà nước 03 điện thoại di động: 01 chiếc nhãn hiệu Nokia, 01 chiếc nhãn hiệu Oppo của bị cáo Thắng và 01 chiếc Iphone màu xanh của bị cáo Hồng;
- + Buộc Đoàn Văn Thắng nộp số tiền 4.800.000 đồng sung ngân sách Nhà nước;
- + Trả lại 02 căn cước cho 02 bị cáo; Trả lại cho bị cáo Hồng 01 điện thoại Iphone màu xanh, bên trong lắp sim liên lạc số 0931.281.xxx:
- + Tịch thu, tiêu huỷ đối với mẫu vật là ma tuý hoàn lại sau giám định, 03 thẻ sim số: 0357.756.790; 0982.600.806; 0931.281.986 và toàn bộ số vật chứng còn lại.
Các bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội. Đánh giá nội dung Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 09/11/2024 kèm theo bản ảnh; Biên bản khám xét ngày 10/11/2024 kèm theo bản ảnh; Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 10/11/2024; Biên bản kiểm tra điện thoại và niêm phong ngày 10/11/2024; Biên bản mở niêm phong, kiểm tra và niêm phong điện thoại ngày 10/11/2024; các lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; lời khai của người làm chứng, người chứng kiến; Kết luận giám định số 1743/KL-KTHS ngày 14/11/2024, số 1747 và 1748/KL-KTHS cùng ngày 16/11/2024, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày từ 01/11/2024 đến 09/11/2024, tại khu 2, phường Hải Yên, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, Đoàn Văn Thắng và Trung Thế Hồng có hành vi nhiều lần tổ chức cho nhau và cho Lê Công Vũ sử dụng trái phép chất ma tuý. Các ngày 31/10/2024, 06/11/2024 và 09/11/2024, tại phường Hải Yên, thành phố Móng Cái, Đoàn Văn Thắng có hành vi bán trái phép nhiều lần ma tuý Methamphetamine cho Trung Thế Hồng để hưởng lợi tổng số tiền 4.800.000 đồng. Ngày 09/11/2024, Trung Thế Hồng còn có hành vi tàng trữ trái phép 4,795 gam ma tuý Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Các bị cáo đều là người trưởng thành, có đủ năng lực nhận thức được tác hại của ma túy và sự nghiêm cấm của pháp luật. Nhưng với ý thức chấp hành pháp luật kém, lối sống buông thả, các bị cáo đã sa ngã vào con đường sử dụng trái phép chất ma túy, không những các bị cáo tổ chức cho nhau mà còn rủ thêm Lê Công Vũ cùng sử dụng trái phép chất ma túy hành vi này của các bị cáo đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo Thắng còn có hành vi bán ma túy nhiều lần để kiếm lời. Khi bị cáo Hồng chuyển tiền để mua ma túy, bị cáo Thắng đã tự ý mua với giá thấp hơn và không nói với bị cáo Hồng biết để hưởng chênh lệch. Tổng cộng 03 lần bán ma túy, hưởng lợi số tiền 4.800.000 đồng nên hành vi
của bị cáo Đoàn Văn Thắng đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hồng chuyển tiền cho bị cáo Thắng đi mua ma túy về mục đích để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện nên bị cáo Trung Thế Hồng phải chịu trách nhiệm hình sự đối với lượng 4,795 gam ma túy Methamphetamine bị phát hiện, thu giữ, hành vi này của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, quan điểm truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái là có căn cứ pháp lý, được chấp nhận.
Các bị cáo đều thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của các bị cáo thể hiện ý thức coi thường pháp luật, tiếp tay cho những đối tượng sản xuất, mua bán trái phép chất ma túy, làm lây lan tệ nạn ma tuý và mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe các bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung.
[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, an ninh xã hội ở địa phương. Đây còn là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của ma túy, nhưng vì lợi nhuận và nhu cầu cá nhân nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm, mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.
[4] Về vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung.
- * Xét vai trò từng bị cáo trong vụ án thấy:
- - Đối với tội danh “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, các bị cáo phạm tội độc lập về từng tội danh nên không xét vai trò.
- - Đối với tội danh “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn, 02 bị cáo cùng có nhu cầu sử dụng, cùng hưởng ứng việc mua ma tuý về tổ chức sử dụng trái phép, Hồng là người đưa tiền, là người mời Vũ đến, còn Thắng là người chủ động liên hệ mua ma tuý, chuẩn bị dụng cụ sử dụng và đi đón Vũ nên xem xét vai trò 02 bị cáo là ngang nhau.
- * Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tuy nhiên, đối với Bị cáo Thắng có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xét xử, tuy đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội nên cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Thắng.
- * Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hồng có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động duy nhất có xác nhận của chính quyền địa phương nên xem xét cho bị cáo Hồng được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- * Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251, khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập, không có tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về xử lý tài sản, vật chứng vụ án:
- - Chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Xpander GLP màu đen, gắn biển số 14A-734.54 thuộc sở hữu hợp pháp của chị Nguyễn Mai Chung, sinh năm 1989, trú tại: Khu Tràng Lộ, phường Trà Cổ, Móng Cái. Trung Thế Hồng đã mượn chiếc xe ô tô trên của chị Chung từ ngày 09/11/2024 và không sử dụng chiếc xe này vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Chung nên Hội đồng xét xử không đề cập.
- - Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen bạc, gắn biển số 14K1-158.14 thuộc sở hữu hợp pháp của anh Đoàn Văn Trường, sinh năm 1997, trú tại: Thôn 8, xã Hải Đông, thành phố Móng Cái. Đoàn Văn Thắng đã mượn chiếc xe máy trên của anh Trường từ tháng 10/2024 nhưng không sử dụng chiếc xe này vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Trường nên Hội đồng xét xử không đề cập.
- - Đối với 02 chiếc điện thoại di động (01 chiếc nhãn hiệu Nokia, màu nâu vàng gắn sim số: 0357.756.790 và 01 chiếc nhãn hiệu Oppo, màu đen, gắn sim số: 0982.600.806) thu giữ của bị cáo Thắng, bị cáo Thắng sử dụng điện thoại Nokia để liên lạc với Dũng giao dịch ma tuý và sử dụng điện thoại Oppo để chuyển tiền; Đối với 02 chiếc điện thoại Iphone (01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu xanh, đã qua sử dụng, gắn sim 0931.281.986 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu xanh, đã qua sử dụng, gắn sim 0829.588.104), bị cáo Hồng sử dụng điện thoại Iphone màu xanh gắn sim số 0829.588.104 để chuyển tiền cho Thắng mua ma tuý và liên lạc với Vũ đến sử dụng ma tuý, chiếc còn lại không sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với 02 chiếc điện thoại của Thắng và 01 điện thoại màu xanh lắp sim 0829.588.104 của Hồng; Tịch thu tiêu huỷ 03 thẻ sim của 03 điện thoại sung ngân sách Nhà nước. Trả lại cho bị cáo Hồng chiếc điện thoại Iphone màu xanh gắn sim số 0931.281.986.
- - Đối với 02 căn cước công dân tạm giữ của Thắng và Hồng, đây là giấy tờ tuỳ thân của các bị cáo nên trả lại cho các bị cáo.
- - 01 túi nilon chứa 4,75 gam chất tinh thể màu trắng cùng vỏ bao gói đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, còn nguyên vẹn, không rách nát. Mặt trước phong bì ghi: “Phòng kỹ thuật hình sự. Đội giám định Số: 1743/KL-KTHS. Mẫu vật hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số: 1743 ngày 14 tháng 11 năm 2024 vụ Đoàn Văn Thắng”; 01 ống hút nhựa màu trắng dài 06cm một đầu cắt vát; 01 ống hút nhựa màu đen dài 7,5cm một đầu cắt vát; 02 ống thuỷ tinh dài lần lượt 12,5cm và 13cm, một đầu uốn cong có bầu tròn; toàn bộ vỏ bao gói đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, còn nguyên vẹn, không rách nát. Mặt trước phong bì ghi: “Phòng kỹ thuật hình sự. Đội giám định Số: 1748/KL-KTHS. Mẫu vật hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số: 1748 ngày 16 tháng 11 năm 2024 vụ khám xét khẩn cấp nơi ở Đoàn Văn Thắng”; cùng toàn bộ vật chứng còn lại: 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp chai màu đỏ được đục hai lỗ và 01 ống nhựa màu vàng - đen dài 30cm; 01 (một) chai nhựa màu trắng - đỏ, nắp chai màu vàng được đục hai lỗ và 01 ống nhựa màu vàng dài 25cm; 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu vàng; 02 (hai) bật lửa gas đã quã sử dụng; 01 (một) hộp bìa các tông hình hộp chữ nhật màu vàng, kích thước (20x12x8)cm, một mặt hộp có dán giấy bị xé rách, trên tờ giấy ghi: “Người nhận 0357756790 khu công nghiệp Hải Yên km7 Móng Cái”; 01 (một) hộp bìa các tông hình hộp chữ nhật màu trắng - xanh, kích thước (15x18x23)cm, một mặt hộp có dán giấy ghi: “Người nhận 0357756790 khu công nghiệp Hải Yên km7 Móng Cái”; 01 (một) hộp bìa các tông hình hộp chữ nhật màu nâu, kích thước (28x10x5)cm, bên ngoài ghi chữ nước ngoài; 01 (một) hộp các tông hình chữ nhật, kích thước (14x8x4)cm, một mặt hộp được dán giấy bên ngoài ghi: “0375.756.790 Khu công nghiệp Hải Yên km7 Móng Cái”; 03 (ba) đoạn ống hút màu xanh dài 20cm; 01 (một) đoạn ống hút màu cam dài 20cm; 01 (một) ống thuỷ tinh dài 15cm, một đầu có bầu tròn là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu huỷ.
- - Đối với số tiền 4.800.000 đồng, là tiền Thắng phạm tội mà có, nên buộc Thắng nộp sung ngân sách Nhà nước.
[6] Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[8] Liên quan trong vụ án:
- - Chị Trà Thị Loan, sinh năm 1983, trú tại: Số 27 Thanh Vy, phường Sơn Lộc, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội là chủ tài khoản ngân hàng mang tên “TRA THỊ LOAN” mà Đoàn Văn Thắng đã chuyển tiền để mua ma tuý của Dũng. Chị Loan được Dũng nhờ nhận hộ số tiền trên rồi đưa tiền mặt lại cho Dũng nhưng không biết Dũng nhờ nhận hộ số tiền này để làm gì nên không đủ căn cứ để xử lý đối với chị Loan về hành vi có liên quan. Ngoài ra, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của Dũng nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh và sẽ xử lý khi có căn cứ.
- - Anh Đỗ Văn Điệp, sinh năm 1978, trú tại: Thôn Lục Phủ, xã Bắc Sơn, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh là chủ nhà mà Đoàn Văn Thắng thuê tại khu 2, phường Hải Yên, thành phố Móng Cái. Anh Điệp không biết các bị cáo sử dụng làm nơi phạm tội nên không đề cập xử lý anh Điệp.
- - Đối với Lê Công Vũ có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 19/11/2024, Phòng Cảnh sát đièu tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Quảng Ninh đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Phạt tiền” với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Thắng 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và 08 (tám) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đoàn Văn Thắng phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/11/2024.
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trung Thế Hồng 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và 24 (hai mươi bốn) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trung Thế Hồng phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/11/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Buộc bị cáo Đoàn Văn Thắng nộp số tiền 4.800.000đ (bốn triệu tám trăm nghìn đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, số Imei 350472593745760, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong thu giữ của Trung Thế Hồng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu nâu vàng, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong thu giữ của Đoàn Văn Thắng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, số Imei 860646043639672, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong thu giữ của Đoàn Văn Thắng.
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 túi nilon chứa 4,75 gam chất tinh thể màu trắng cùng vỏ bao gói đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, còn nguyên vẹn, không rách nát. Mặt trước phong bì ghi: “Phòng kỹ thuật hình sự. Đội giám định Số: 1743/KL-KTHS. Mẫu vật hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số: 1743 ngày 14 tháng 11 năm 2024 vụ Đoàn Văn Thắng”; 01 ống hút nhựa màu trắng dài 06cm một đầu cắt vát; 01 ống hút nhựa màu đen dài 7,5cm một đầu cắt vát; 02 ống thuỷ tinh dài lần lượt 12,5cm và 13cm, một đầu uốn cong có bầu tròn cùng toàn bộ vỏ bao gói đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, còn nguyên vẹn, không rách nát. Mặt trước phong bì ghi: “Phòng kỹ thuật hình sự. Đội giám định Số: 1748/KL-KTHS. Mẫu vật hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số: 1748 ngày 16 tháng 11 năm 2024 vụ khám xét khẩn cấp nơi ở Đoàn Văn Thắng”; 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp chai màu đỏ được đục hai lỗ và 01 ống nhựa màu vàng - đen dài 30cm; 01 (một) chai nhựa màu trắng - đỏ, nắp chai màu vàng được đục hai lỗ và 01 ống nhựa màu vàng dài 25cm; 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu vàng; 02 (hai) bật lửa gas đã quã sử dụng; 01 (một) hộp bìa các tông hình hộp chữ nhật màu vàng, kích thước (20x12x8)cm, một mặt hộp có dán giấy bị xé rách, trên tờ giấy ghi: “Người nhận 0357756790 khu công nghiệp Hải Yên km7 Móng Cái”; 01 (một) hộp bìa các tông hình hộp chữ nhật màu trắng - xanh, kích thước (15x18x23)cm, một mặt hộp có dán giấy ghi: “Người nhận 0357756790 khu công nghiệp Hải Yên km7 Móng Cái”; 01 (một) hộp bìa các tông hình hộp chữ nhật màu nâu, kích thước (28x10x5)cm, bên ngoài ghi chữ nước ngoài; 01 (một) hộp các tông hình chữ nhật, kích thước (14x8x4)cm, một mặt hộp được dán giấy bên ngoài ghi: “0375.756.790 Khu công nghiệp Hải Yên km7 Móng Cái”; 03 (ba) đoạn ống hút màu xanh dài 20cm; 01 (một) đoạn ống hút màu cam dài 20cm; 01 (một) ống thuỷ tinh dài 15cm, một đầu có bầu tròn là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu huỷ.
- - Trả lại cho bị cáo Đoàn Văn Thắng 01 (một) căn cước công dân mang tên Đoàn Văn Thắng.
- (Vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 77/2025/THA, ngày 27/3/2025).
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Đoàn Văn Thắng, Trung Thế Hồng mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ: khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Án xử sơ thẩm công khai các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Đức Thanh |
Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 10/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự
- Số bản án: 59/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Văn Thắng CĐP tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
