Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HS-ST

Ngày: 10/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Danh Hùng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và bà Hoàng Thị Khánh

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Cao Thị Vân - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: ông Lê Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu; Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2025/TLST - HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2025/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 03 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/QĐ-HS ngày 26 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cao Thị Tuyết N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 27/7/1995; Nơi sinh: xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Đảng viên Đ1; Họ và tên cha: Cao Bá H (Sinh năm 1968); Họ và tên mẹ: Võ Thị T (Sinh năm 1971); Anh em ruột: có 04 người; bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Họ và tên chồng: Phan Huy L (Sinh năm: 1994 - Đã ly hôn); Con: có 02 con; con lớn sinh năm 2018 và con nhỏn sinh năm 2023; Tiền sự, tiền án: không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/9/2024 đến ngày 19/9/2024, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.Có mặt tại phiên tòa.

- Các bị hại:.

  1. Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1996 (có mặt)
    Trú tại: xóm 9, xã Diễn Tân, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
  2. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1989 (có mặt)
    Trú tại: xóm Vinh Quang, xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
  3. Chị Trần Thị N1, sinh năm 1985 (có đơn xin vắng mặt)
    Trú tại: khối Nam, xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
  4. Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1988 (có mặt)
    Trú tại: khối E, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An
  5. Chị Cao Thị T2, sinh năm 1989 (có mặt)
    Trú tại: xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
  6. Cao Thị T3, sinh năm 1991 (có mặt)
    Trú tại: xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1992 (có mặt)

Địa chỉ: Trung tâm ocean Edu huyện D, khối D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cao Thị Tuyết N là nhân viên tại Trung tâm A chi nhánh huyện D, tỉnh Nghệ An. Quá trình làm việc tại trung tâm, Cao Thị Tuyết N là chuyên viên tuyển sinh có có nhiệm vụ là thu hút, tuyển sinh học viên và chăm sóc, tư vấn, hướng dẫn khách hàng làm hồ sơ, thủ tục đăng ký nhập học và theo dõi chăm sóc học viên học tại Trung tâm. Quá trình làm việc tại Trung tâm A chi nhánh huyện D, tỉnh Nghệ An, Cao Thị Tuyết N đã lợi dụng lý do đóng hộ hoàn thiện học phí và hoàn tất hồ sơ để lừa dối khách hàng là các phụ huynh học sinh để nắm giữ các thẻ tín dụng của khách hàng để rút tiền từ thẻ tín dụng của khách hàng ra để chiếm đoạt, sử dụng chi tiêu cá nhân. Cụ thể đã thực hiện các vụ như sau:

- Vụ thứ 1: Đầu tháng 6/2024, chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1996, trú tại xóm I, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An đăng ký cho con là Nguyễn Thiên Â, sinh năm 2017 học tại Trung tâm A chi nhánh huyện D, tỉnh Nghệ An và đã được Cao Thị Tuyết N tư vấn, hướng dẫn làm hồ sơ, thủ tục học khóa 36 tháng với tổng học phí ưu đãi 49.682.200 đồng khi thanh toán thẻ tín dụng của ngân hàng S1 chi nhánh huyện D. Ngày 24/6/2024, Cao Thị Tuyết N cùng chị Nguyễn Thị S đi làm thẻ tín dụng tại ngân hàng S1 chi nhánh D. Cao Thị Tuyết N yêu cầu chị Nguyễn Thị S đưa thẻ tín dụng với lý do đưa ra là để N đứng ra cầm thẻ đóng nộp chi phí về Trung tâm và hoàn thiện hồ sơ và học phí nhập học cho cháu Nguyễn Thiên  mà không hướng dẫn chị Nguyễn Thị S đến trung tâm trực tiếp quẹt thẻ và lấy hóa đơn theo quy định. Do tin tưởng nên chị Nguyễn Thị S đã giao thẻ tín dụng cho Cao thị Tuyết N để đóng học phí. Đến ngày 25/6/2024, Cao Thị Tuyết N đưa thẻ tín dụng của chị Nguyễn Thị S đến địa điểm có máy POS rút số tiền 49.500.000 đồng (Bốn mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng) để sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

- Vụ thứ 2: Vào đầu tháng 7/2024, chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1989, trú tại xóm V, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An đăng ký cho con là cháu Ma Văn T4 (sinh năm 2017) sử dụng dịch vụ giáo dục tại Trung tâm A chi nhánh huyện D, tỉnh Nghệ An và đã được Cao Thị Tuyết N tư vấn, hướng dẫn làm hồ sơ, thủ tục học khóa học 36 tháng với tổng số tiền học phí được ưu đãi là 49.682.800 đồng và làm thẻ tín dụng ưu đãi tại ngân hàng S1 chi nhánh D. Ngày 08/7/2024, Cao Thị Tuyết N đã đã lợi dụng hoạt động tư vấn, hướng dẫn cho chị Nguyễn Thị T1 và yêu cầu chuyển khoản trước cho Trung tâm 20% tiền học phí của cháu Ma Văn T4 với số tiền là 9.791.000 đồng (Chín triệu bảy trăm chín mươi mốt triệu đồng) và đề nghị chị T1 chuyển khoản qua tài khoản cá nhân của N qua số tài khoản 0355178803 tại ngân hàng V, tên chủ tài khoản: CAO THI TUYET NHUNG. Sau khi nhận được số tiền trên từ chị Nguyễn Thị T1 thì Cao Thị Tuyết N chỉ nộp 1.000.000 (Một triệu đồng) vào tài khoản công ty để đăng ký trên hệ thống cho trường hợp cháu Ma Văn T4 theo học tại lớp học thử tại Trung tâm, số tiền còn lại Cao Thị Tuyết N không nộp về tài khoản của hệ thống công ty mà sử dụng để tiêu xài cá nhân.

Đến ngày 16/7/2024, Cao Thị Tuyết N hướng dẫn cho chị Nguyễn Thị T1 đến xác nhận để đăng ký mở thẻ và lấy thẻ tín dụng tại tại quầy giao dịch Ngân hàng S1 chi nhánh D. Cao Thị Tuyết N đề nghị chị Nguyễn Thị T1 đưa thẻ tín dụng để N trực tiếp cầm thẻ giúp chị Nguyễn Thị T1 nộp chi phí và hoàn thiện hồ sơ thủ tục nhập học cho cháu Ma Văn T5 tại Trung tâm Anh ngữ, do tin tưởng nên chị T1 đồng ý giao thẻ. Sau khi lấy được thẻ tín dụng, Cao Thị Tuyết N đưa thẻ tín dụng của chị Nguyễn Thị T1 đến điểm có máy POS ngoài trung tâm rút đi số tiền là 49.506.000₫ (Bốn mươi chín triệu năm trăm linh sáu nghìn đồng) để tiêu xài cá nhân hết. Như vậy, Cao Thị Tuyết N đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị T1 số tiền là 58.297.000 đồng (Năm mươi tám triệu hai trăm chín mươi bảy nghìn đồng).

- Vụ thứ 3: Ngày 29/7/2024, chị Trần Thị N1, sinh năm 1985, trú tại khối N, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An đăng ký cho con là Trần Thị Hà L1 (sinh năm 2008) sử dụng dịch vụ giáo dục tại Trung tâm A chi nhánh huyện D, tỉnh Nghệ An và đã được Cao Thị Tuyết N tư vấn, hướng dẫn làm hồ sơ, thủ tục đăng ký khóa học 36 tháng với mức ưu đãi nộp trực tiếp số tiền là 56.583.200 đồng và chị Trần Thị N1 đồng ý. Cao Thị Tuyết N yêu cầu chị Trần Thị N1 chuyển trực tiếp số tiền 57.000.000 đồng (Năm mươi bảy triệu đồng) vào tài khoản của Cao Thị Tuyết N và hẹn hai ngày sau sẽ có hóa đơn đóng học phí cho Trung tâm trực tiếp đến trung tâm nộp tiền và lấy hóa đơn theo quy định. Do tin tưởng nên chị Trần Thị N1 đã đồng ý. Ngày 30/7/2024, chị Trần Thị N1 đã chuyển vào tài khoản 0355178803 ngân hàng V của Cao Thị Tuyết N số tiền 57.000.000 đồng (Năm mươi bảy triệu đồng). Sau khi nhận số tiền trên, Cao Thị Tuyết N chỉ nộp đóng 1.000.000 đồng tiền cọc vào trung tâm, số tiền còn lại 56.000.000 đồng sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Như vậy, Cao Thị Tuyết N đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt của chị Trần Thị N1 số tiền là 56.000.000 đồng (Năm mươi sáu triệu đồng).

- Vụ thứ 4: Đầu tháng 8/2024, chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1988, trú tại khối E, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An đăng ký cho con là Nguyễn Quang T6, sinh năm 2014 và Nguyễn Hoàng Q, sinh năm 2016 sử dụng dịch vụ giáo dục tại Trung tâm A chi nhánh huyện D, tỉnh Nghệ An. Chị Nguyễn Thị X đã được Cao Thị Tuyết N trực tiếp tư vấn, hướng dẫn làm hồ sơ, thủ tục và đã chọn khóa học 36 tháng cho cháu Nguyễn Quang T6 với số tiền học phí là 46.813.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu tám trăm mười ba nghìn đồng) và khóa học 24 tháng cho cháu Nguyễn Hoàng Q với số tiền học phí là 32.465.000 đồng (Ba mươi hai triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng). Cao Thị Tuyết N đã hướng dẫn chị Nguyễn Thị X mở thẻ tín dụng tại ngân hàng S1 để hưởng ưu đãi của trung tâm với hạn mức 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Ngày 13/8/2024, chị Nguyễn Thị X đã chuyển số tiền 2.681.000 đồng vào tài khoản 0355178803 ngân hàng V của Cao Thị Tuyết N để nộp cọc. Đến ngày 14/8/2024, Cao Thị Tuyết N yêu cầu chị Nguyễn Thị X chuyển số tiền học phí là 26.597.000 đồng (Hai mươi sáu triệu năm trăm chín mươi bảy nghìn đồng) còn lại với lý do để hoàn thiện đóng học phí đăng ký cho trung tâm mà không hướng dẫn chị X đến trực tiếp trung tâm nộp số tiền trên lấy hóa đơn theo quy định nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền trên. Do tin tưởng nên chị X tiếp tục chuyển khoản số tiền 26.597.000 đồng trong ba đợt vào các ngày 14 và 15/8/2024 vào tài khoản trên của Cao Thị Tuyết N. Cao Thị Tuyết N chỉ chuyển nộp về tài khoản của hệ thống công ty số tiền 2.681.000 đồng (Hai triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn đồng) để nộp cọc đăng ký cho Nguyễn Quang T6 và Nguyễn Hoàng Q. Số tiền 26.597.000 đồng (Hai mươi sáu triệu năm trăm chín mươi bảy nghìn đồng) còn lại thì Cao Thị Tuyết N chiếm đoạt để sử dụng để chi tiêu cá nhân.

- Vụ thứ 5: Ngày 19/8/2024, chị Cao Thị T2, sinh năm 1989, trú tại xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An liên hệ đăng ký cho con là Đồng Cao Linh Đ (sinh năm 2015) sử dụng dịch vụ giáo dục tại Trung tâm A chi nhánh huyện D, tỉnh Nghệ An và được Cao Thị Tuyết N tư vấn, hướng dẫn làm hồ sơ, thủ tục đăng ký khóa học 36 tháng với tổng học phí là 49.682.200 đồng (Bốn mươi chín triệu sáu trăm tám mươi hai nghìn hai trăm đồng) bằng ưu đãi mở thẻ tín dụng tại ngân hàng S1 chi nhánh D. Đến ngày 28/8/2024, Cao Thị Tuyết N hướng dẫn cho chị Cao Thị T2 để đăng ký mở thẻ và lấy thẻ tín dụng tại tại quầy giao dịch ngân hàng S1 chi nhánh D. Cao Thị Tuyết N yêu cầu chị Cao Thị T2 đưa thẻ tín dụng với lý do đưa ra là để N giúp chị T2 trực tiếp cầm thẻ tín dụng của chị T2 để đóng nộp chi phí về Trung tâm và hoàn thiện hồ sơ và học phí nhập học cho cháu Đồng Cao Linh Đ mà không hướng dẫn chị T2 đến trực tiếp Trung tâm để quẹt thẻ đóng học phí và lấy hóa đơn theo quy định, nhằm mục đích lấy thẻ tín dụng rút tiền chiếm đoạt. Do tin tưởng nên chị Cao Thị T2 đã đồng ý giao thẻ. Cùng ngày 28/8/2024, Cao Thị Tuyết N đưa thẻ tín dụng của chị Cao Thị T2 đến địa điểm có máy POS ngoài trung tâm rút số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) tiêu xài cá nhân hết.

- Vụ thứ 6 : Ngày 21/8/2024, chị Cao Thị T3, sinh năm 1991, trú tại xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An đăng ký cho con là Hoàng Thị Yến N2 (sinh năm 2012) sử dụng dịch vụ giáo dục tại Trung tâm A chi nhánh huyện D, tỉnh Nghệ An và đã được Cao Thị Tuyết N trực tiếp tư vấn, hướng dẫn làm hồ sơ, thủ tục đăng ký khóa học 36 tháng với tổng số tiền học phí ưu đãi nộp qua thẻ tín dụng là 49.682.200 đồng và chị Cao Thị T3 đã đồng ý. Ngày 21/8/2024, Cao Thị Tuyết N đã đã yêu cầu chị Cao Thị T3 chuyển khoản số tiền nộp cọc là 1.682.200 đồng vào số tài khoản của Trung tâm và chị T3 đã nộp theo hướng dẫn. Ngày 23/8/2024, Cao Thị Tuyết N đi cùng chị Cao Thị T3 đến ngân hàng S1 chi nhánh D để làm thẻ tín dụng và đề nghị chị T3 đưa thẻ tín dụng cho N đóng nộp học phí về Trung tâm và hoàn thiện hồ sơ nhập học cho Hoàng Thị Yến N2 mà không hướng dẫn chị T3 đến quầy của trung tâm giao dịch quẹt thẻ và lấy hóa đơn theo quy định để nhằm mục đích lấy thẻ tín dụng rút tiền chiếm đoạt, do tin tưởng nên chị Cao Thị T3 đồng ý giao thẻ. Cùng ngày 23/8/2024, Cao Thị Tuyết N cầm thẻ của tín dụng của chị Cao Thị T3 ra điểm có máy POS ngoài Trung tâm rút đi số tiền 48.000.000 đồng (Bốn mươi tám triệu đồng) và đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Thông qua việc thực hiện hành vi lừa đảo, Cao Thị Tuyết N đã chiếm đoạt của Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị T1, Cao Thị T3, Cao Thị T2, Trần Thị N1, Nguyễn Thị X là các khách hàng đăng ký các khoá học cho con tại Trung tâm A chi nhánh huyện D tổng số tiền là 288.394.800 đồng (Hai trăm tám mươi tám triệu ba trăm chín tư nghìn tám trăm đồng).

Ngày 10/9/2024, Cao Thị Tuyết N nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã đến trình diện trước Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D để đầu thú và khai nhận về hành phạm tội của bản thân.

Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS-DC ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Cao Thị Tuyết N về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo từ 7 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/9/2024 đến ngày 19/9/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về trách nhiệm dân sự:

  • Chị Nguyễn Thị Thương yêu C bồi thường số tiền là 58.297.000 đồng (Năm mươi tám triệu bốn trăm bảy mươi bảy nghìn đồng).
  • Chị Nguyễn Thị S yêu cầu bồi thường số tiền là 43.102.225 đồng (Bốn mươi ba triệu một trăm linh hai nghìn hai trăm hai mươi lăm đồng).
  • Chị Trần Thị N1 yêu cầu bồi thường số tiền là 56.000.000 đồng (Năm mươi sáu triệu đồng).
  • Chị Cao Thị T3 yêu cầu bồi thường số tiền còn lại là 33.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).
  • Chị Cao Thị T2 yêu cầu bồi thường số tiền còn lại là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
  • Chị Nguyễn Thị X yêu cầu bồi thường số tiền còn lại là 19.997.000 đồng (Mười chín triệu chín trăm chín mươi bảy nghìn đồng).

Buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại

* Vật chứng: - Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) thẻ tín dụng VISA ngân hàng S1, số tài khoản thẻ: 3418105437; tên chủ tài khoản: NGUYEN THI THUONG.

- Tịch thu nộp ngân sách 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 2026, Số IMEI 1: 860671057421478; Số IMEI 2: 860671057421460 bên trong có gắn hai sim số thuê bao: 0355178803 và 0977555995 do Cao Thị Tuyết N tự nguyện giao nộp trong quá trình ra trình diện đầu thú trước Cơ quan điều tra. Hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện D, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.

[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố.

Xét lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận: Xuất phát từ mục đích tư lợi của bản thân muốn có tiền tiêu xài, trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2024, lợi dụng công việc tư vấn, lập hồ sơ nhập học cho các học viên tại Trung tâm A, bằng các thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác Cao Thị Tuyết N đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sáu bị hại, cụ thể: chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị S số tiền 49.500.000 đồng (Bốn mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng), chị Nguyễn Thị T1 số tiền 58.297.000 đồng (Năm mươi tám triệu hai trăm chín mươi bảy nghìn đồng), chị Trần Thị N1 số tiền 56.000.000 đồng (Năm mươi sáu triệu đồng), chị Nguyễn Thị X số tiền 26.597.800 đồng (Hai mươi sáu triệu năm trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm đồng), chị Cao Thị T2 số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), chị Cao Thị T3 số tiền 48.000.000 đồng (Bốn mươi tám triệu đồng). Như vậy, Cao Thị Tuyết N đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tổng số tiền 288.394.800 đồng (Hai trăm tám mươi tám triệu ba trăm chín mươi tư nghìn tám trăm đồng), bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.

[3]. Về tính chất vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, tạo nên tâm lý hoang mang, bất an đối với người dân, gây mất trật tự trị an ở địa phương nên cần phải đưa ra một mức án tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và đảm bảo tính răn đe phòng ngừa chung và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho các bị hại; bị cáo được Ban chấp hành hội sinh viên thành phố Hồ Chí Minh tặng bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác tình nguyện và bằng khen vì có thành tích tốt trong phong trào hội và phong trào sinh viên năm 2017.

[4]. Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có việc làm, không có tài sản nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền.

[5]. Về trách nhiệm dân sự:

  • Chị Nguyễn Thị Thương yêu C bị cáo Cao Thị Tuyết N bồi thường số tiền là 58.297.000 đồng(Năm mươi tám triệu bốn trăm bảy mươi bảy nghìn đồng).
  • Ngày 31/7/2024, Cao Thị Tuyết N đã tự nguyện nộp số tiền 6.397.775 đồng học phí cho cháu Nguyễn Thiên Â, chị Nguyễn Thị S yêu cầu Cao Thị Tuyết N tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 43.102.225 đồng (Bốn mươi ba triệu một trăm linh hai nghìn hai trăm hai mươi lăm đồng).
  • Chị Trần Thị N1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 56.000.000 đồng (Năm mươi sáu triệu đồng).
  • Cao Thị Tuyết Nhung khắc phục cho chị Cao Thị T3 số tiền là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), chị T3 yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 33.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).
  • Cao Thị Tuyết N đã khắc phục cho chị Cao Thị T2 đã được bị cáo số tiền là 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng) và tiếp tục yêu cầu bị cáo Cao Thị Tuyết N khắc phục số tiền còn lại là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
  • Bị hại Nguyễn Thị X được bị can Cao Thị Tuyết N khắc phục số tiền là 6.600.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm nghìn đồng) và tiếp tục yêu cầu Cao Thị Tuyết N khắc phục số tiền còn lại là 19.997.000 đồng (Mười chín triệu chín trăm chín mươi bảy nghìn đồng).

Xét thấy yêu cầu của các bị hại là có cơ sở nên cần buộc bị cáo bồi thường cho các bị hại số tiền tổng cộng là 215.396.225 (Hai trăm mười lăm triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn hai trăm hai mươi lăm) đồng.

[6]. Về vật chứng:

  • 01 (Một) thẻ tín dụng VISA ngân hàng S1, số tài khoản thẻ: 3418105437; tên chủ tài khoản: NGUYEN THI THUONG nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 2026, SỐ IMEI 1: 860671057421478; Số IMEI 2: 860671057421460 bên trong có gắn hai sim số thuê bao: 0355178803 và 0977555995 do Cao Thị Tuyết N tự nguyện giao nộp trong quá trình ra trình diện đầu thú trước Cơ quan điều tra cần tịch thu nộp ngân sách.

Các vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu.

[7]. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bị cáo phải chịu mỗi bị cáo 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền án phí dân sự trong hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

- Tuyên bố bị cáo Cao Thị Tuyết N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Cao Thị Tuyết N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/9/2024 đến ngày 19/9/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng điều 30 của Bộ luật hình sự; các điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại tổng số tiền là 215.396.225 (Hai trăm mười lăm triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn hai trăm hai mươi lăm) đồng, cụ thể:

  • Buộc bị cáo bồi thường cho chị Nguyễn Thị T1 số tiền là 58.297.000 đồng (Năm mươi tám triệu bốn trăm bảy mươi bảy nghìn đồng).
  • Buộc bị cáo bồi thường cho chị Nguyễn Thị S số tiền là 43.102.225 đồng (Bốn mươi ba triệu một trăm linh hai nghìn hai trăm hai mươi lăm đồng).
  • Buộc bị cáo bồi thường cho chị Trần Thị N1 số tiền là 56.000.000 đồng (Năm mươi sáu triệu đồng).
  • Buộc bị cáo bồi thường cho chị Cao Thị T3 số tiền là 33.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).
  • Buộc bị cáo bồi thường cho chị Cao Thị T2 số tiền là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
  • Buộc bị cáo bồi thường cho chị Nguyễn Thị X số tiền là 19.997.000 đồng (Mười chín triệu chín trăm chín mươi bảy nghìn đồng).

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không chịu trả số tiền đã tuyên, thì hàng tháng còn phải chịu số tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N3 quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Về vật chứng:

Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) thẻ tín dụng VISA ngân hàng S1, số tài khoản thẻ: 3418105437; tên chủ tài khoản: NGUYEN THI THUONG.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 2026, Số IMEI 1: 860671057421478; Số IMEI 2: 860671057421460 bên trong có gắn hai sim số thuê bao: 0355178803 và 0977555995 do Cao Thị Tuyết N tự nguyện giao nộp.

Các vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo Phiếu nhập kho số 25NK064 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/02/2025

4. Về án phí:

Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Cao Thị Tuyết N phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 10.796.811 (Mười triệu bảy trăm chín mươi sáu triệu tám trăm mười một) đồng tiền án phí dân sự trong hình sự.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an tỉnh Nghệ An;
  • - THA Dân sự huyện Diễn Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo;
  • - Người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Danh Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 10/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 59/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger