Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VĨNH YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HS-ST

Ngày 06 tháng 06 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Minh Ái.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Thu Hằng và ông Nguyễn Thế Khải

Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Hằng - Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên tòa: Bà Cao Hồng Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:43/2025/HSST ngày 18 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn S, sinh năm 1997; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Phạm Thị H; vợ: Kim Thị N, con: có 0 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại tại địa phương (có mặt).

Bị hại: Công ty TNHH Đ do ông L TA CHENG giám đốc công ty là người đại diện theo pháp luật; địa chỉ: Khu G, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị N1 - Nhân viên hành chính của công ty Đ (vắng mặt);

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Kim Thị N, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt);

Chị Bùi Thị H1, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong các ngày 24 và 26/8/2024, do không có tiền tiêu xài và lợi dụng ca làm việc ban đêm, có ít công nhân ở công ty nên Nguyễn Văn S là nhân viên tại bộ phận kỹ thuật của Công ty TNHH Đ đã 02 lần thực hiện trộm cắp các cuộn dây đồng (loại dây đồng sử dụng để sản xuất các linh kiện điện tử) trong kho chuẩn bị vật liệu của Công ty TNHH Đ rồi đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Cụ thể,

Lần 1: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 24/8/2024, S một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu trắng, Biển kiểm soát: 88K1-507.74 đến Công ty TNHH Đ. Khi đến công ty, S để xe máy ở dưới buồng thang dẫn rồi đi bộ lên tầng 2 làm việc. Đến khoảng 22 giờ 30 phút, S một mình đi vào trong kho chuẩn bị vật liệu của công ty TNHH Đ. Tại đây, S nhìn thấy 02 cuộn dây đồng gồm: 01 cuộn dây đồng mã 1-220002001-00, đã sử dụng, đường kính dây đồng là 0,2mm; 01 cuộn dây đồng mã 1-2L0010151-00, đã sử dụng, đường kính dây đồng là 0,1mm để trên giá để đồ trong kho. S lấy một trong hai cuộn dây đồng trên (S không nhớ rõ cụ thể là cuộn nào) đúc vào hộp giấy đã chuẩn bị sẵn, lấy băng dính có sẵn trong kho dán cố định nắp thùng rồi trèo lên giá để đồ, thả hộp đựng cuộn dây đồng vừa lấy được qua cửa sổ xuống đường nội bộ trong công ty. Sau đó, S đi ra ngoài và trở lại chỗ làm việc. Một lúc sau, S một mình đi bộ từ tầng 2 xuống tầng 1, đi ra cửa đến vị trí đường nội bộ nhặt cuộn dây đồng rồi cất cuộn dây đồng S vừa trộm cắp được vào trong cốp xe mô tô dựng sẵn ở buồng thang. Đến khoảng hơn 23 giờ 30 phút cùng ngày, S tiếp tục đi vào kho chuẩn bị vật liệu lấy 01 cuộn dây đồng còn lại đúc vào hộp giấy đã chuẩn bị sẵn, lấy băng dính có sẵn trong kho dán cố định nắp thùng rồi trèo lên giá để đồ, thả hộp đựng cuộn dây đồng vừa lấy được qua cửa sổ xuống đường nội bộ trong công ty rồi trở lại làm việc. Một lúc sau, S đi xuống đường nội bộ trong công ty nhặt cuộn dây đồng vừa thả xuống và đem cất giấu vào cốp xe máy. Đến khoảng hơn 05 giờ 20 phút ngày 25/8/2024, S điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát: 88K1-507.74, trong cốp có 02 cuộn dây đồng vừa trộm cắp được đến cửa hàng mua bán phế liệu của chị Bùi Thị H1, sinh năm 1985, ở thị trấn H, huyện T bán 02 cuộn dây đồng vừa trộm cắp được cho chị H1 với giá 150.000đ/1kg. Sau khi loại bỏ phần nhựa, cân số dây đồng trên được 24 kg (01 cuộn nặng 09 kg, cuộn còn lại nặng 15 kg). Chị H1 đã chuyển số tiền 3.600.000 đồng (24kg x 150.000 đồng) từ tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V1 của chị H1 đến tài khoản số 93652747246 của S mở tại Ngân hàng V2, S đã tiêu sài cá hân hết số tiền trên.

Lần 2: Với thủ đoạn như trên, khoảng 22 giờ 32 phút ngày 26/8/2024, S đi vào trong kho chuẩn bị vật liệu và lấy 01 cuộn dây đồng có mã 1-220003001-00, chưa qua sử dụng, đường kính dây đồng là 0,3 mm để ở sau cánh cửa kho. S trèo lên giá để đồ, thả hộp đựng cuộn dây đồng vừa trộm cắp được xuống đường nội bộ công ty qua cửa sổ. Sau đó, S một mình đi bộ đến xuống đường nội bộ nhặt cuộn dây đồng vừa thả xuống, đem cất cuộn dây đồng vào trong cốp xe mô tô biển kiểm soát: 88K1-507.74 dựng sẵn ở buồng thang. Đến khoảng hơn 05 giờ 00 phút ngày 27/8/2024, khi tan ca làm, S lấy xe mô tô đi về nhà. Khoảng 06 giờ 20 phút ngày 28/8/2024, S một mình điều khiển xe mô tô trên (trong cốp xe chứa cuộn dây đồng S trộm cắp được ngày 26/8/2024) đi đến cửa hàng mua bán phế liệu của chị Bùi Thị H1 bán cho chị H1 với 150.000 đồng/1kg, cân phần đồng được 15,6 kg. Chị H1 chuyển 1.350.000đ vào tài khoản 93652747246 của S mở tại Ngân hàng V2 và đưa cho S 990.000đ tiền mặt. S đã tiêu sài hết số tiền trên.

Sau khi mua số dây đồng trên, ngày 28/8/2025, chị H1 đã bán 39,6kg dây đồng mua của S cho 01 người phụ nữ khoảng 45 tuổi với giá 160.000đ/1kg, thu lời 396.000đ.

Ngày 02/10/2024, trên cơ sở trình báo của Công ty TNHH Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V triệu tập S đến làm việc; tại Cơ quan điều tra S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Đồng thời giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc quần màu nâu; 01 chiếc áo cộc tay không có cổ, có họa tiết màu xám đen; 01 chiếc quần gió màu đen, hai bên ống quần có kẻ màu xám; 01 chiếc áo cộc tay màu xanh đen, trên ngực trái có chữ “SONG HÀO”; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max màu đen than chì, bên trong lắp 01 sim số 0352.747.246, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu trắng, BKS: 88K1 - 507.74; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Kim Thị N.

Cùng ngày, chị Bùi Thị H1 giao nộp số tiền 396.000 đồng là tiền lãi bán số dây đồng chị H1 đã mua của S.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 145/KL-HĐĐG ngày 14/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố V kết luận:

  • - 01 cuộn dây đồng mã: 1-220002001-00, tổng khối lượng 15 kg, đã qua sử dụng, trị giá 4.230.720 đồng, thời điểm định giá là ngày 24/8/2024.
  • - 01 cuộn dây đồng mã: 1-2L0010151-00, khối lượng 09 kg, đã qua sử dụng, trị giá 3.217.239 đồng, thời điểm định giá là ngày 24/8/2024.
  • - 01 cuộn dây đồng mã: 1-22003001-00, khối lượng 15,64 kg, chưa qua sử dụng, trị giá 4.245.759 đồng, thời điểm định giá là ngày 26/8/2024.

Tổng giá trị của 03 cuộn dây đồng trên là 11.693.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 230/KL-KTHS ngày 17/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh V kèm phụ lục giám định thể hiện hình ảnh nam giới có đặc điểm giống Nguyễn Văn S đang thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 24, 26/8/2024.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã thông báo các Kết luận giám định, định giá nêu trên cho bị hại và bị cáo, bị hại và bị cáo đều không có ý kiến thắc mắc gì.

Tại bản Cáo trạng số 50/CT - VKSVY ngày 16 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1,2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo S từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù thời hạn tù tính từ bắt bị cáo đi thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo

V vật chứng: Đề nghị tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu trắng, BKS: 88K1 - 507.74 cùng 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Kim Thị N; tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc quần màu nâu; 01 chiếc áo cộc tay không có cổ, 01 chiếc quần gió màu đen; 01 chiếc áo cộc tay màu xanh đen, trên ngực trái có chữ “SONG HÀO”; tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 396.000 đồng thu giữ của chị Bùi Thị H1. Trả lại bị cáo Nguyễn Văn S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max màu đen than chì, bên trong lắp 01 sim số 0352.747.246 nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên quá trình điều tra đều trình bày các nội dung phù hợp lời trình bày của bị cáo. Người đại diện hợp pháp cho bị hại thừa nhận sau khi sự việc xảy ra gia đình bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho công ty Đ. Công ty S1 không có ý kiến gì về phần trách nhiệm dân sự đồng thời có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Chị là vợ của bị cáo Nguyễn Văn S, chiếc xe Honda Lead màu trắng, BKS: 88K1 - 507.74 chị mua trong thời kỳ kết hôn với bị cáo, chiếc xe trên đăng ký đứng tên chị, được mua bằng tiền tích cóp của chị có trước thời kỳ hôn nhân. Do chị đang trong thời kỳ sinh con lên bị cáo sử dụng chiếc xe trên để đi làm, chị không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe trên cho chị.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án bị hại vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Do không có tiền tiêu xài nên ngày 24 và 26/8/2024, Nguyễn Văn S, đã 02 lần thực hiện trộm cắp 03 cuộn dây đồng (loại dây đồng sử dụng để sản xuất các linh kiện điện tử) trong kho chuẩn bị vật liệu của Công ty Đ rồi đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tổng giá trị 03 cuộn dây đồng S trộm cắp theo Kết luận định giá là 11.693.000 đồng.

Hành vi phạm tội như đã nêu trên của bị cáo S đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 03 năm tù nên thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng. Bị cáo có trình độ văn hóa nhưng thiếu tu dưỡng bản thân, vì muốn có tiền tiêu sài các nhân đã lợi dụng mình là nhân viên tại bộ phận kỹ thuật của công ty TNHH Đ, lợi dụng ca làm việc ban đêm, ít người ở công ty, 02 lần lén lút thực hiện trộm cắp 03 cuộn dây đồng có giá trị là 11.693.000 đồng, nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để làm gương cho người khác. Mặt khác trong thời gian ngắn bị cáo 02 lần thực hiện hành vi phạm tội mỗi lần đều thoả mãn cấu thành tội phạm nên bị cáo bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã tích cực tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1,2 Điều 51 bộ luật hình sự năm 2015.

Từ phân tích trên thấy rằng: Mặc dù bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng nhưng trong thời gian ngắn liên tục thực hiện 02 hành vi phạm tội mỗi lần đều thoả mãn cấu thành tội phạm điều này thể hiện sự manh động, táo bạo, coi thường pháp luật của bị cáo, vì vậy cần xử lý thật nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ điều kiện cải tạo giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng. Xét thấy bị cáo làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định do đó Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Đối với chị Bùi Thị H1 là người mua 03 cuộn dây đồng S trộm cắp của Công ty TNHH Đ, nhưng không biết 03 cuộn dây đồng trên là tài sản do S trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với chị Kim Thị N (là vợ bị cáo S) đã cho S mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu trắng, BKS: 88K1 - 507.74: Khi mượn xe S nói để đi làm nên chị N không biết S dùng chiếc xe vào việc phạm tội nên cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với chị N là có căn cứ.

[7] Về vật chứng vụ án:

- Đối với 03 cuộn dây đồng S trộm cắp của công ty TNHH Đ, chị H1 đã bán cho khách mua hàng, chị H1 không biết tên tuổi địa chỉ của người khách mua hàng nên không thu giữa được nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max màu đen than chì, bên trong lắp 01 sim số 0352.747.246, là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho S nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu trắng, BKS: 88K1 - 507.74; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Kim Thị N, chị N cho rằng đây là tài sản riêng của chị nhưng chị không có chứng cứ chứng minh. Hơn nữa chiếc xe này là tài sản có trong thời kỳ hôn nhân giữa chị với bị cáo nên xác định đây là tài sản chung của chị và bị cáo S, ngày 24 và 26/8/2024 bị cáo dùng chiếc xe này làm phương tiện dùng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 chiếc quần màu nâu; 01 chiếc áo cộc tay không có cổ, 01 chiếc quần gió màu đen; 01 chiếc áo cộc tay màu xanh đen, trên ngực trái có chữ “SONG HÀO” đây là trang phục S mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 24,26/8/2024, S không nhu cầu nhận lại nên đề nghị tịch thu, tiêu huỷ.

- Đối với số tiền 396.000 đồng thu giữ của chị Bùi Thị H1 là tiền thu lời bất chính cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1,2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu trắng, BKS: 88K1 - 507.74 cùng 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Kim Thị N. Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc quần màu nâu; 01 chiếc áo cộc tay không có cổ, 01 chiếc quần gió màu đen; 01 chiếc áo cộc tay màu xanh đen, trên ngực trái có chữ “SONG HÀO”; Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 396.000 đồng thu giữ của chị Bùi Thị H1.

Trả lại bị cáo Nguyễn Văn S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max màu đen than chì, bên trong lắp 01 sim số 0352.747.246 nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án (Vật chứng có đặc điểm như mô tả trong biên bản bàn giao vật chứng ngày 20/5/2025).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát thành phố Vĩnh Yên;
  • - Chi cục thi hành án thành phố Vĩnh Yên;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Minh Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 06/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 59/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộmsản cắp tài
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger