Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HS-ST

Ngày 02-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Sâm - Giáo viên trường Trung học cơ sở Quỳnh Hồng, huyện Quỳnh Phụ;

Ông Đặng Ngọc Tân - Giảng viên trung tâm chính trị huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025 đối với

- Bị cáo: Bùi Văn D; Giới tính: Nam.

Sinh ngày 18/8/2005, tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. (Tính đến thời điểm phạm tội bị cáo 17 tuổi 10 tháng 22 ngày).

Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Họ và tên cha: Bùi Văn D1, sinh năm 1968; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1969; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 28/01/2025 đến ngày 31/01/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Khu vực huyện Q, tỉnh Thái Bình.

- Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Như T, sinh ngày 26/11/2007.
  2. Người đại diện: Ông Nguyễn Như T1, sinh năm 1960 - Bố đẻ

    Đều cư trú tại: thôn M, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình.

  3. Vũ Minh Q, sinh ngày 17/4/2007.
  4. Người đại diện: Ông Vũ Xuân T2, sinh năm 1978 - Bố đẻ.

    Đều cư trú tại: thôn N, xã Q, huyện H, tỉnh Thái Bình.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Đoàn Văn Đ, sinh ngày 19/3/2005, cư trú: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Nguyễn Đức Q1, sinh ngày 04/12/2005, cư trú: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Nguyễn Vũ Khánh L, sinh ngày 29/12/1996, cư trú: tổ B, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Hiện đang chấp hành án tại trại giam T10, tỉnh Thanh Hóa.

Nguyễn Văn K, sinh ngày 05/11/1995, cư trú: thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Khổng Minh H, sinh ngày 22/4/2000, cư trú: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 24/9/1994, cư trú: tổ F, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Phạm Văn Đ1, sinh ngày 19/8/2001, cư trú: tổ C, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Nguyễn Đình Q2, sinh ngày 19/11/1999, cư trú: thôn S, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Phạm Duy H1, sinh năm 1999, cư trú: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Phạm Thanh T3, sinh ngày 27/7/2006, cư trú: thôn Ô, xã T, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Trần Đăng T4, sinh ngày 28/11/2004, cư trú: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Trần Văn P, sinh ngày 27/5/20005, cư trú: thôn L, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình;

Chu Ngọc D2, sinh ngày 18/02/2005, cư trú: thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình;

Trần Hữu Đ2 sinh ngày 12/11/2007; Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Hữu H2, sinh năm 1968 (bố đẻ Đoàn); đều địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Nguyễn Tuấn V, sinh ngày 12/3/2004, cư trú: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên ;

Đặng Văn H3, sinh ngày 11/6/2007; Người đại diện hợp pháp: ông Đặng Văn N1, sinh năm 1969 và bà Vũ Thị N2, sinh năm 1971 (bố mẹ đẻ Hợp); Đều địa chỉ: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Nguyễn Thiện P1, sinh ngày 15/7/2007; Người đại diện hợp pháp: bà Hà Thị L1, sinh năm 1977 (mẹ đẻ P1); đều địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình;

Lê Minh Đ3, sinh ngày 29/8/2007, Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Minh T5, sinh năm 1982 (bố đẻ Đ3); đều địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình;

Trần Công T6, sinh năm 1997, cư trú: tại tổ B, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Phạm Tiến Long V1, sinh ngày 13/8/2004, cư trú: thôn S, xã Q, huyện Q,tỉnh Thái Bình;

Nguyễn Xuân K1, sinh năm 1985, cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình .

- Người làm chứng:

Đỗ Thị Huyền C, sinh năm 2005, cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Vũ Thị Thu L2, sinh năm 2005, cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Phạm Tuấn A, sinh năm 1998, cư trú: tổ F, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Vũ Đăng Đ4, sinh năm 1987, cư trú: thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Vũ Đức N3, sinh năm 2003, cư trú: thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Nguyễn Tuấn A1, sinh năm 1989, cư trú: thôn S, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Đỗ Văn T7, sinh năm 1988, cư trú: tổ A, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Trần Ngọc D3, sinh năm 2004, cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo. Bị hại và người đại diện cho bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt; Vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có quen biết nên tối ngày 10/7/2023 Đoàn Văn Đ, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 17B5-245.41 chở Bùi Văn D và Nguyễn Đức Q1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 17B5-604.15 đi chơi. Khoảng 22 giờ 30 phút, cả ba về đến ngã tư B, tổ A, thị trấn Q, huyện Q, bị một nhóm khoảng 08 người (chưa xác định được họ tên, địa chỉ) đi trên 04 xe mô tô (không xác định được biển số) ném vỏ chai. Trước đó, có thông tin thanh niên huyện H sang huyện Q ném vỏ chai người đi đường và cho rằng nhóm người trên là thanh niên huyện H nên D rủ Đ, Nguyễn Đức Q1 đi theo khoảng 01 km đến khu vực cầu M, thuộc tổ D thị trấn Q, huyện Q thì quay lại cầu T. Tại đây, bực tức việc bị ném vỏ chai Đ rủ D, Nguyễn Đức Q1 “Anh em mình lượn đi tìm nhóm Hưng H4”. Duyến, Nguyễn Đức Q1 đồng ý. Duyến chở Đ, Nguyễn Đức Q1 đi với tốc độ 35 đến 40km/h theo đường N đến gần khu vực Bệnh viện Đ7 (khoảng 01km) thấy có 04 xe mô tô sau biết xe do Trần Hữu Đ2 chở Vũ Minh Q và Nguyễn Như T; Nguyễn Tuấn V chở Đặng Văn H3; Trần Văn P chở Chu Ngọc D2; Nguyễn Thiện P1 chở Lê Minh Đ3 đi ngược chiều với tốc độ cao, bấm còi liên tục qua nên quay lại đi theo về phía cầu T. Nguyễn Đức Q1 đi được đoạn ngắn thì dừng lại cho một nam thanh niên đi nhờ về cầu T; Duyến chở Đ rẽ trái vào đường T gần tới ngã tư giao nhau giữa đường T với đường Nguyễn Công T8 thấy xe mô tô sau biết do Đ2 chở Q và T đi ngược chiều tới, đuổi phía sau là xe ô tô sau biết nhãn hiệu Toyota, số loại Vios, màu sơn vàng cát, loại 05 chỗ ngồi, biển số 65E-004.25, do Nguyễn Vũ Khánh L chở Nguyễn Ngọc B (ngồi ghế phụ) và Khổng Minh H; Nguyễn Văn K (ngồi hàng ghế sau) tới. Nghe có người hô “Bọn Hưng H4 ném chai bia đấy đứng gọn vào”, D dừng xe ở mé đường bên phải, cách ngã tư khoảng 20 mét quan sát thấy xe tô do L điều khiển xe vượt lên bên trái nên phần bên phải xe ô tô va chạm với bên trái xe mô tô do Đ2 điều khiển, làm cho xe mô tô đi lên vỉa hè bên phải va vào tủ kính đặt ở trước cửa hàng bánh của anh Trần Công T6. Xe mô tô đổ, Đ2, Q và T bị ngã. Đ2 chạy vào đường N về phía chợ Q3. Q và T bị thương nằm trên vỉa hè. Chị Đỗ Thị Huyền C, và chị Vũ Thị Thu L2 lưu thông trên đường thấy nên dừng lại. Lúc này, có nhiều người tới, cho rằng Q và T là nhóm thanh niên huyện H nên Đ, D đi sang. Đ dùng chân đá 02 nhát vào đầu Quân, đạp 02 nhát vào bụng T. Duyến nhặt thanh kiếm dài khoảng 01 mét, rộng khoảng 04 cm, mũi nhọn, lưỡi cong sắc, ở ven đường, cầm tay phải chém 02 nhát theo hướng từ trên xuống dưới có 01 nhát trúng tay trái Q. Đ tiếp tục dùng tay phải tát 01 nhát, cầm dép nhựa đen cạnh đó đập liên tiếp 08 nhát, dùng chân đá 01 nhát vào đầu Quân. Duyến nhặt dép nhựa cầm tay trái đập 02 nhát vào bụng T, dùng chân đạp 02 nhát vào lưng T. Cả hai vừa đánh vừa chửi “Đ/m mày, đ/m chúng mày”. Chị C, chị L2 vào can ngăn. Sau va chạm, L điều khiển xe ô tô đi lên khoảng 30 mét quay đầu xe dừng cách ngang chỗ Q và T bị đánh khoảng 02 mét. L, K, H xuống xe thấy Q, T nằm trên vỉa hè bị Đ dùng chân tay, D cầm kiếm chém, L dùng chân phải đá 02 nhát vào vai, dùng tay phải tát 01 nhát vào đầu T. K dùng chân phải đạp 03 nhát vào tay, 01 nhát vào chân T. Hiểu dùng chân đạp 02 nhát vào lưng Q. Duyến giơ kiếm định chém Q và T, Đ nhặt 01 viên gạch xỉ màu xám có kích thước (10x20 x 05)cm sẵn có ở vỉa hè định ném Q và T thì được chị L2, chị C can ngăn. K giật thanh kiếm từ tay D để vào hàng ghế sau xe ô tô của L. Đ vứt viên gạch xuống đường rồi lại dùng tay phải tát 01 nhát vào đầu, dùng chân phải đạp 02 nhát vào chân T. Lúc này, có một nam giới mặc áo cộc tay, quần dài đen, đi giầy tây đen (chưa xác định được họ tên, địa chỉ) tới dùng chân đá 01 nhát vào gáy Q. K, H, Đ, D dừng lại cùng nam giới mặc quần áo đen đi bộ về phía cầu T. L vào xe ô tô để B chở về. Chị L2 và chị C bỏ đi. Q, T bị thương tích nằm trên vỉa hè. Khoảng 03 phút sau, Đ đi bộ quay lại tiếp tục dùng chân phải đá 01 nhát vào sườn phải của T. Lúc này, Nguyễn Đình Q2 trên đường về đến cầu T gặp chở Phạm Tiến Long V1 đến ngã tư thấy có đông người và nghe thông tin bắt được nhóm thanh niên huyện H đã dừng lại thấy Đ đang dùng chân tay đánh Q và T nên Phạm Tiến Long V1 tay phải nhặt một vỏ chai bia thủy tinh ở vỉa hè đập 01 nhát, hướng từ trên xuống dưới về phía đầu T, T giơ 02 tay lên đỡ nên trúng tay trái. Nguyễn Đình Q2 dùng tay phải đấm 03 nhát vào mặt Q rồi ra đường đứng sau đó quay lại dùng tay phải đấm 02 nhát, tay trái đấm 01 nhát vào mặt Q. Phạm Văn Đ1 ở nhà nghe có người nói bắt được nhóm thanh niên huyện H ném vỏ chai đi ra xem thấy Đ, Phạm Tiến Long V1, Nguyễn Đình Q2, dùng chân tay chân đánh Q và T cũng vào dùng chân phải đi dép xốp nhựa đen đá 02 nhát vào đầu T. Trần Đăng T4; Phạm Thanh T3; Nguyễn Đức Q1; Phạm Duy H1 và 02 nam thanh niên (chưa xác định được họ tên, địa chỉ) đi tới thấy Đ, Phạm Tiến Long V1, Nguyễn Đình Q2, Đ1 dùng chân tay đánh Q và T. Do trước đó, trên đường đi chơi cùng bạn là Phạm Văn Đ5, ở cùng thôn đến khu vực Trường THPT N4, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình bị một nhóm thanh niên (chưa xác định được họ tên, địa chỉ) đi cùng chiều ném vỏ chai vào khuỷu tay phải gây xước da chảy máu nên T3 cũng vào dùng chân phải đi dép xốp nhựa màu đen đá 01 nhát vào vai, 01 nhát vào mặt T rồi vòng ra đường đứng sau đó tiếp tục dùng chân phải đạp 01 nhát vào đầu T. Nguyễn Đức Q1 trước đó đi cùng Đ và D đến sau cũng vào dùng chân phải đạp 01 nhát, chân trái đá 02 nhát vào đầu T. Thoại ngồi ở cầu T nghe có người nói bắt được nhóm thanh niên huyện H ném vỏ chai nên cũng vào dùng chân phải đạp 01 nhát vào đầu gối Q, tay phải cầm dép nhựa nhặt ở vỉa hè đập 01 nhát vào đầu T. Hai nam thanh niên cũng dùng chân tay đánh Q, T. H1 làm phục vụ ở quán B1, khu Đ, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, cách khoảng 100 mét nghe người đi đường nói bắt được nhóm thanh niên huyện H ném vỏ chai đã đi ra dùng tay phải tát 01 nhát vào tay Q. Nguyễn Đình Q2 tiếp tục dùng chân phải đạp 01 nhát vào đầu T, dùng 2 tay đấm liên tiếp 3 nhát vào tay Q. Nghe kể Q, T bị nhiều người đánh nên Nguyễn Văn T9 cùng Nguyễn Văn K ở cầu T quay lại cùng các anh Phạm Tuấn A, anh Vũ Đức N3, anh Vũ Đăng Đ4, anh Đỗ Văn T7, anh Nguyễn Tuấn A1, anh Trần Ngọc D3 cùng đến can ngăn. Ít phút sau, Đ2 bị một nhóm 05 đến 06 người (chưa xác định được họ tên, địa chỉ) đưa về chỗ Q và T. Tại đây, Đ2 bị Nguyễn Đình Q2 dùng tay đấm 01 nhát vào mặt, Nguyễn Đức Q1 dùng tay phải đấm 02 nhát vào mặt, dùng chân phải đạp 02 nhát vào bụng.

Nhận được tin báo của ông Vũ Văn Đ6, sinh năm 1967, cư trú: tổ C, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình tổ công tác Công an thị trấn Q, huyện Q, đến hiện trường đưa bị hại đi cấp cứu, quản lý 02 két nhựa màu đỏ chứa 30 vỏ chai bia thủy tinh nhãn hiệu Hạ Long (01 két 20 vỏ chai, 01 két 10 vỏ chai); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 17B4-705.03. Hậu quả: Nguyễn Như T bị thương tích ở mặt sau khuỷu tay trái đến 1/3 trên mặt sau cẳng tay trái, gãy đầu trên xương trụ trái tay trái, chấn thương thận độ 2, gãy gai ngang bên trái L2, gãy gai ngang hai bên L5, gãy cuống sống hai bên L5 và cuống sống bên trái L4 được đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện Đ7, chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh T, Bệnh viện H5 điều trị đến ngày 15/7/2023, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 39%. Vũ Minh Q bị thương tích cạnh cột sống lệch trái từ L1 đến khe liên mông bên trái, giữa lưng bên phải, mặt khuỷu tay trái, mặt sau 1/3 trên cánh tay trái, được đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện Đ7, chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh T, Bệnh viện H5 điều trị đến ngày 20/7/2023, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 11%. Trần Hữu Đ2 bị xây xát da mặt sau khuỷu tay trái, mặt sau gối trái được đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện Đ7, chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh T điều trị đến ngày 14/7/2023, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 0%.

Ngày 17/7/2023, Công an thị trấn Q, huyện Q báo cáo và chuyển toàn bộ tài liệu, vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 20/01/2024, Vũ Minh Q và đại diện hợp pháp có đơn yêu cầu khởi tố những người có hành vi gây thương tích đối với Q. Bùi Văn D bỏ trốn vào tỉnh Tây Ninh đến ngày 28/01/2025 về địa phương bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q bắt truy nã ở thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

Giấy chứng nhận thương tích ban đầu số 50/CN, ngày 12/7/2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh T; bệnh án ngoại của Bệnh viện H5; bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện đa khoa tỉnh T; Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, số 390/KLTTCT-TTPY, ngày 27/9/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh T: “1. Các kết quả chính: Mặt sau khủyu tay trái đến 1/3 trên mặt sau cẳng tay trái có vết sẹo mổ trung bình; gãy đầu trên xương trụ trái (M) tay trái; chấn thương thận độ II; gãy gai ngang bên trái L2; gãy gai ngang hai bên L5; gãy cuống sống hai bên L5 và cuống sống bên trái L4. 2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định tâm thần xác định. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của từng thương tích đối với Nguyễn Như T tại thời điểm giám định: Mặt sau khủyu tay trái đến 1/3 trên mặt sau cẳng tay trái có vết sẹo mổ trung bình: 02%; gãy đầu trên xương trụ trái (M) tay trái: 08%; Chấn thương thận độ II: 06%; Gãy gai ngang bên trái L2. Gãy gai ngang hai bên L5: 15%; Gãy cuống sống hai bên L5 và cuống sống bên trái L4: 16%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Nguyễn Như T tại thời điểm giám định là 39%. Cơ chế hình thành thương tích: Do va đập với vật tầy cứng”.

Giấy chứng nhận thương tích ban đầu số 49/CN, ngày 12/7/2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh T; bệnh án ngoại của Bệnh viện H5; bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện đa khoa tỉnh T; Công văn số 183/CV-TTPY, ngày 18/10/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh T; Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, số 391/KLTTCT-TTPY, ngày 21/9/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh T: “1. Các kết quả chính: Vùng cạnh cột sống lệch trái từ L1 đến khe liên mông bên trái có 03 vết sẹo: Vết sẹo thứ nhất sẹo nhỏ, vết sẹo thứ hai sẹo lớn, vết sẹo thứ ba sẹo lớn; Vùng giữa lưng bên phải có vết sẹo nhỏ; Mặt khủyu tay tái có vết sẹo nhỏ; Mặt sau 1/3 trên cánh tay trái có vết sẹo trung bình. 2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định tâm thần xác định. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của từng thương tích Vũ Minh Q tại thời điểm giám định: Vùng cạnh cột sống lệch trái từ L1 đến khe liên mông bên trái có 03 vết sẹo: Vết sẹo thứ nhất sẹo nhỏ: 01%; vết sẹo thứ hai sẹo lớn: 03 %; vết sẹo thứ ba sẹo lớn: 03%; Vùng giữa lưng bên phải có vết sẹo nhỏ: 01 %; Mặt khủyu tay trái có vết sẹo nhỏ: 01%; Mặt sau 1/3 trên cánh tay trái có vết sẹo trung bình: 02%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể Vũ Minh Q tại thời điểm giám định là 11%. Cơ chế hình thành thương tích: Vùng cạnh cột sống lệch trái do vật tầy cứng có cạnh gây nên; Vùng giữa lưng bên phải: Do vật tầy cứng có cạnh gây nên; Vùng khuỷu tay trái: Do vật sắc gây nên”.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, số 392/KLTTCT-TTPY, ngày 21/9/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh T: “1. Các kết quả chính: Mặt sau khuỷu tay trái có đám xước da; Mặt sau gối trái có đám xây xát da. 2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định tâm thần xác định: Các thương tích trên không có căn cứ cho điểm tỷ lệ theo thông tư. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Hữu Đ2 tại thời điểm giám định là 00%” (bút lục số 164 - 165);

Tại Cáo trạng số 56/CT-VKSQP ngày 05/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo D về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo D đã khai nhận hành vi gây thương tích đối với bị hại Vũ Minh Q và Nguyễn Như T vào ngày 10/7/2023 như đã nêu trong bản cáo trạng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo D, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 12; khoản 2 Điều 179, Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên, đề xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ 28/01/2025.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 589, 590 Bộ luật Dân sự, ghi nhận việc bị cáo đã bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại cho bị hại Nguyễn Như T số tiền 2.000.000 đồng. Bị hại Vũ Minh Q không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự.

Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Trong phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng xã hội, trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy:

[2.1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ; phù hợp với lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Biên xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường (kèm bản ảnh) do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 09 giờ 10 phút ngày 25/7/2023 tại cửa hàng bánh của anh Trần Công T6 ở tổ C, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (bút lục số 244 - 249); Giấy chứng nhận thương tích ban đầu số 50/CN, ngày 12/7/2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh T (bút lục số 57); bệnh án ngoại của Bệnh viện H5 (bút lục số 58 - 72); bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện đa khoa tỉnh T (bút lục số 73 - 112); Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, số 390/KLTTCT-TTPY, ngày 27/9/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh T (bút lục số 113-114); Giấy chứng nhận thương tích ban đầu số 49/CN, ngày 12/7/2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh T (bút lục số 121); bệnh án ngoại của Bệnh viện H5 (bút lục số 122 - 131); bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện đa khoa tỉnh T (bút lục số 132 - 145); Công văn số 183/CV-TTPY, ngày 18/10/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh T; Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, số 391/KLTTCT-TTPY, ngày 21/9/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh T (bút lục số 146 - 149); Các biên bản về việc trích xuất, niêm phong dữ liệu điện tử từ camera an ninh tại cửa hàng bánh của anh Trần Công T6 do Công an thị trấn Q, huyện Q lập hồi 00 giờ 30 phút ngày 11/7/2023 (bút lục số 262-263); Kết luận giám định số 1769/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh T (bút lục số 178 - 185); Biên bản làm việc truy tìm vật chứng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 08 giờ ngày 23/7/2024 tại bờ sông đối diện nhà Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1994, ở tổ F, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (bút lục số 223); Các biên bản nhận dạng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 08 giờ, 14 giờ ngày 08/01/2024; 08 giờ ngày 10/01/2024 tại Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình (bút lục số 229 - 243), cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[2.2] Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Do bị nhóm thanh niên ném vỏ chai nên khoảng 22 giờ 30 phút ngày 10/7/2023, bị cáo Bùi Văn D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 17B5-245.41, chở Đoàn Văn Đ đi tìm đến ngã tư giao nhau giữa đường T với đường N, thuộc tổ C, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, thấy xe ô tô biển số 65E-004.25, do Nguyễn Vũ Khánh L điều khiển chở Nguyễn Ngọc B, Khổng Minh H, Nguyễn Văn K đuổi vượt lên chặn va chạm với bên trái xe mô tô do Trần Hữu Đ2 điều khiển chở Vũ Minh Q và Nguyễn Như T, sinh ngày 26/11/2007 (người dưới 16 tuổi) làm xe mô tô đi lên vỉa hè va vào tủ kính bị đổ ngã. Đoàn bỏ chạy, Q, T bị thương nằm trên vỉa hè. Cho rằng Đ2, Q, T thuộc nhóm người ném vỏ chai nên D cùng Đ đi sang. Tại đây, D đã nhặt kiếm dài khoảng 01 mét, rộng khoảng 04 cm, mũi nhọn, lưỡi cong sắc ở ven đường, cầm tay phải chém trúng tay trái Q; tay trái cầm dép nhựa đập 02 nhát vào bụng T, dùng chân đạp 02 nhát vào lưng T. Ngoài ra, Q và T còn bị Đoàn Văn Đ cầm dép, Phạm Tiến L3 V1 cầm vỏ chai bia thủy tinh đập, Nguyễn Vũ Khánh L, Nguyễn Văn K, Khổng Minh H, Nguyễn Đình Q2, Nguyễn Đức Q1, Phạm Thanh T3, Trần Đăng T4, Phạm Văn Đ1 và một nam giới mặc áo cộc tay, quần dài đen dùng tay đấm, chân đá, đạp vào người. Hậu quả: Nguyễn Như T bị thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 39%; Vũ Minh Q bị thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11%.

Hành vi của bị cáo D đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ.

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

  1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;.......

    c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;...

  2. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

    c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này; ...”.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy: Hành vi sử dụng thanh kiếm (là hung khí nguy hiểm) chém trúng tay trái Q; cầm dép nhựa đập 02 nhát vào bụng T, dùng chân đạp 02 nhát vào lưng T khi thấy Vũ Minh Q và Nguyễn Như T (người chưa đủ 16 tuổi) đang bị thương nằm trên vỉa hè gây thương tích cho T tỷ lệ 39%, Q 11% của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội và dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, coi thường pháp luật, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, vì vậy Hội đồng xét xử cần phải lên một mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội cũng như việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét về vai trò, hành vi phạm tội của các bị cáo thấy: Đây là vụ án đồng phạm, giữa bị cáo và những người tham gia thực hiện hành vi cố ý gây thương tích không có bàn bạc thống nhất, phân công nhiệm vụ từ trước. Bị cáo không phải là người rủ rê, khởi xướng, có vai trò là người thực hành khi thấy các bị hại Vũ Minh Q và Nguyễn Như T bị thương tích nằm trên vỉa hè và cho rằng các bị hại là người nơi khác đến gây rối và ném vỏ chai bia vào bị cáo nên bị cáo đã tiếp nhận ý chí, cầm thanh kiếm và dép nhặt ở vỉa hè đánh gây thương tích cho T và Q. Vì vậy khi lượng hình cần lên mức án đối với bị cáo D cho phù hợp.

[5] Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, quá trình điều tra đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả xảy ra. Bị hại và đại diện bị hại Nguyễn Như T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về độ tuổi: tính đến thời điểm phạm tội bị cáo 17 tuổi 10 tháng 22 ngày (dưới 18 tuổi). Vì vậy, khi lượng hình cần áp dụng các quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và các quy định có lợi cho các bị cáo theo quy định tại Điều 12, khoản 2 Điều 179, Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên để lên mức hình phạt phù hợp.

[6] Từ những phân tích nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và bảo đảm mục đích hình phạt nói chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo D đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại cho bị hại Nguyễn Như T số tiền 2.000.000 đồng. Bị hại và đại diện bị hại T đã nhận số tiền trên không còn yêu cầu về bồi thường dân sự. Bị hại Vũ Minh Q và đại diện bị hại Q không yêu cầu D phải bồi thường dân sự nên cần ghi nhận.

[8] Về vật chứng vụ án: Đối với thanh kiếm kim loại dài khoảng 01 mét, rộng khoảng 04 cm, mũi nhọn, lưỡi cong sắc D dùng chém gây thương tích đối với bị hại Vũ Minh Q và chiếc dép nhựa cầm đập bị hại Nguyễn Như T được D nhặt ở nơi xảy ra vụ án, không xác định được là của ai. Sau khi D chém bị hại Q thì Nguyễn Văn K giật thanh kiếm để vào hàng ghế sau xe ô tô của Nguyễn Ngọc B. Quá trình điều tra, B khai đã vứt bỏ thanh kiếm xuống sông, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã truy tìm nhưng không quản lý được.

[9] Trong vụ án này đối với Nguyễn Vũ Khánh L, Nguyễn Văn K, Khổng Minh H, Nguyễn Ngọc B, Nguyễn Đình Q2, Đoàn Văn Đ, Phạm Văn Đ1, Nguyễn Đức Q1, Phạm Thanh T3, Trần Đăng T4, Phạm Tiến Long V1, Nguyễn Tuấn V, Chu Ngọc D2, Trần Văn P, Đặng Văn H3, Vũ Minh Q, Lê Minh Đ3, Trần Hữu Đ2, Nguyễn Như T, Nguyễn Thiện P1, Phạm Duy H1 và vật chứng của vụ án đã được phân tích, đánh giá, xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST, ngày 21/3/2025 và Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HSST, ngày 28/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Nhóm nam thanh niên ném vỏ chai bia và nam giới mặc áo cộc tay, quần dài đen dùng chân đá vào gáy bị hại Vũ Minh Q đến nay chưa xác định được họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lý lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”
  2. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Điều 12; khoản 2 Điều 179, Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên xử phạt bị cáo Bùi Văn D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/01/2025.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 589, 590 Bộ luật Dân sự, ghi nhận việc bị cáo đã bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại cho bị hại Nguyễn Như T số tiền 2.000.000 đồng. Bị hại Vũ Minh Q không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự. Việc bồi thường đã thực hiện xong.
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Bùi Văn D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, đại diện bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết công khai hoặc ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ;
  • - Chi cục THADS huyện Quỳnh Phụ;
  • - Cơ quan CSĐT, Cơ quan THAHS,
  • Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Bị cáo, bị hại, đại diện bị hại, người
  • có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Minh Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 59/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Bùi Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger