Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

—————————

Bản án số: 59/2025/HS-PT

Ngày 28 - 5 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

—————————

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Thành.

Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Mạnh;

Ông Nguyễn Văn Nghĩa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Linh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà:

Bà Bùi Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2025/TLPT-HS ngày 14 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Việt P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Bị cáo có kháng cáo: Phạm Việt P, sinh ngày 11 tháng 11 năm 2007 tại huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (Tính đến thời điểm phạm tội là 16 tuổi 11 tháng 23 ngày); nơi cư trú: Thôn 1, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H và bà Đinh Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/11/2024 đến nay; (Có mặt).

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm Việt P: Bà Đinh Thị N, sinh năm 1980 (là mẹ đẻ của bị cáo); (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn 1, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Người bào chữa cho bị cáo P: Ông Phạm Văn K - Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh V; (Có mặt).

Địa chỉ: Số C đường N, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Các bị cáo khác không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20h00 ngày 02/11/2024, tại một quán Bi A ở xã T, huyện T, P rủ C đi T chơi và C đồng ý. Sau đó, C gọi điện cho Đỗ Bảo T và được T điều khiển xe mô tô (không có biển kiểm soát) đến quán Bi A đón C và P rồi cả ba đi đến Chùa V ở xã H, huyện T chơi. P là người điều khiển xe, C và T ngồi sau. Trên đường đi nhóm của P gặp 05 nam giới (thời điểm này chưa quen biết nhau) muốn nhập nhóm đi chơi nên 08 người cùng đi Chùa V ở T. Khi đi đến C3 ở ven đường C thuộc thị trấn H, huyện T thì nhóm P gặp nhóm Đinh Minh P1, Hà Văn C1 (cả 2 đều là bạn của P) và Nguyễn Hoàng L. Cả 2 nhóm gồm 11 người đứng nói chuyện với nhau khoảng 10 phút thì rủ nhau cùng đi đến Chùa V chơi. Khi ở chùa, cả nhóm gặp Nguyễn Việt A1 (là bạn của C1) điều khiển xe mô tô (không có biển kiểm soát) và được rủ cả nhóm xuống hồ Đ uống nước. P, Việt A1, C1 và L đồng ý; C, P1, T và 05 nam giới còn lại không tham gia.

Sau đó, Việt A1 điều khiển xe chở C1. L điều khiển xe chở P đi Đ chơi. Khi đi đến vòng xuyến H thuộc thị trấn H, huyện T thì cả nhóm gặp một nhóm nam giới điều khiển xe cầm theo hung khí nên C1 bảo Việt A1 quay về. P nhận ra trong nhóm này có quen biết D “Tôm” và L1 (họ, tuổi, địa chỉ cụ thể thì P không nắm được) nên L và P nhập vào nhóm người này để tiếp tục đi chơi. Trên đường đi P nhìn thấy có 03 nam giới đi trên 1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, trong đó 2 nam giới ngồi phía sau mỗi người cầm một dao phóng lợn tự chế, thấy vậy P bảo L đi sát vào xe này rồi P hỏi mượn nam giới ngồi thứ 3 một thanh phóng lợn tự chế thì nam giới này đồng ý và đưa cho P. Sau đó cả nhóm cùng nhau di chuyển đến hồ Đ chơi.

Đến khoảng 00h30 ngày 03/11/2024 khi cả nhóm đi về đến cây xăng V1 thuộc thôn H, xã T, huyện B, do P muốn tách nhóm để đi về nên bảo L rẽ sang vào đường vào Khu Công nghiệp B. Do đó, lúc này nhóm chỉ còn P và L, (P ngồi phía sau tay vẫn cầm thanh phóng lợn). Trên đường về theo TL310 đến đoạn thuộc thôn N, xã T thì P và L nhìn thấy anh Ngô Văn H1 đang điều khiển xe mô tô BKS: 75AE - 038.50 chở anh Thân Hữu T1; anh Lê Văn Tấn T2 điều khiển xe mô tô BKS: 75E1 - 364.31 chở anh Vũ Văn C2 đi cùng chiều phía trước. Do thấy xe mô tô của anh H1 và anh T2 mang biển kiểm soát ngoại tỉnh nên L điều khiển xe đi ngang với xe mô tô của anh T2 còn P thì chĩa mũi dao về phía anh T2 và anh C2 - mục đích để trêu chọc anh T2, sau đó L tăng ga đi về phía trước. Anh H1 đang đi phía sau xe T2 thấy vậy đã tăng ga điều khiển xe đi lên bên trái xe của L, khi 2 xe đi song song cách nhau khoảng 03 mét - theo chiều ngang thì anh T1 ngồi phía sau dơ 2 ngón tay về phía L, anh H1 điều khiển xe vượt lên phía trước, bực tức vì cho rằng H1 và T1 trêu trọc nên P bảo L

tăng ga đuổi theo xe của anh H1. Khi 2 xe đi song song nhau thì xe anh H1 đi ở làn đường giáp dải phân cách cứng, xe L điều khiển đi bên ngoài, hai xe cách nhau khoảng 3m theo chiều ngang thì Phong cầm chuôi phóng lợn bằng 2 tay dơ lên cao chuyển từ bên phải sang bên trái và chém một phát về phía xe của anh H1 nhưng không trúng ai, lưỡi dao bị chém xuống mặt đường, thấy P cầm dao chém về phía mình, anh H1 tăng ga và điều khiển xe tránh nên xe bị mất lái đã đâm vào dải phân cách, xe mô tô bị đổ anh H1 và anh T1 bị ngã xuống đường, thấy vậy L tăng ga bỏ chạy về phía cổng KCN Bá Thiện 1 rồi rẽ vào khu dân cư TDP. Trại Cúp, thị trấn B, sau đó P vứt thanh phóng lợn vào một bụi cỏ ven đường rồi cả hai đi về.

Anh H1 và anh T1 bị thương tích được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh V cấp cứu và điều trị đồng thời anh T1 có đơn trình báo Cơ quan điều tra và Cơ quan điều tra đã tổ chức xác minh hiện trường, thu giữ vật chứng, lập hồ sơ điều tra xác minh theo quy định.

Vật chứng thu giữ: Cơ quan điều tra thu giữ 01 con dao (loại dao phóng lợn tự chế bằng kim loại có tổng chiều dài 2,64 mét, trong đó thân phóng lợn là một thanh kim loại hình tròn có đường kính 02cm, chiều dài là 2,34 mét, một đầu thanh kim loại có hàn liên kết với 01 con dao bầu, đầu nhọn, chiều dài của dao là 0,3 mét); ngày 04/11/2024, anh T1 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 xe mô tô BKS: 75AE - 038.50; ngày 11/11/2024, L tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 xe mô tô BKS:19AA - 118.99 cùng để phục vụ điều tra.

Ngày 07/11/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số 2065, 2066 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh V giám định thương tích đối với anh Ngô Văn H1 và anh Thân Hữu T1.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 464/ KLTTCT - PYVP ngày 12/11/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y đối với anh Ngô Văn H1 kết luận: Vết thương phần mềm vùng trán phải kích thước nhỏ xếp: 03%; vết thương phần mềm vùng trán thái dương phải kích thước trung bình xếp: 02%; vết thương phần mềm đỉnh lệch phải kích thước nhỏ xếp: 01%; tụ máu dưới màng cứng chưa đánh giá được di chứng thần kinh, xếp 11%; vỡ xương thái dương đỉnh phải chưa đo được kích thước đường vỡ, xếp 10%; các thương tích còn lại hiện đang điều trị chưa đánh giá được mức độ tổn thương, chờ ra viện ổn định giám định bổ sung; cơ chế hình thành vết thương: Các thương tích đã mô tả trên có thể là do vật tày gây nên. Tỉ lệ tổn thương cơ thể thời điểm hiện tại là 25% (Hai mươi lăm phần trăm).

Ngày 04/12/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung đối với thương tích của anh Ngô Văn H1. Tại Bản kết luận giám định bổ sung số 464/KLTTCT – PYVP tổn thương cơ thể trên người sống số 504/KLTTCT – PYVP của Trung tâm pháp y tỉnh V kết luận: Sẹo vùng trán phải kích thước nhỏ xếp: 03%; sẹo vùng trán thái dương phải kích thước trung bình xếp: 02%; sẹo đỉnh lệch phải kích thước nhỏ xếp: 01%; đám biến đổi rối loạn sắc tố da góc ngoài mắt phải, xếp 0,5%; đám biến đổi rối loạn sắc tố da trán trái, xếp 0,5%; sẹo hạ thắt lưng phải, kích thước nhỏ, xếp 01%; 03 sẹo mặt trong 1/3 dưới mặt trong cẳng chân phải: Vết kích thước nhỏ 1 x 0,5 cm, xếp 01%; Vết kích thước trung bình 5 x 0,5cm và 3 x 1cm, mỗi vết xếp 02%, 02%; 04 sẹo mặt trong bàn chân và mu chân trái kích thước nhỏ, mỗi vết xếp 01%, 01%, 01%, 01%; đụng dập nhu mô não (Phải phẫu thuật) xếp 11%; lỗ khuyết xương sọ đáy chắc sau phẫu thuật lấy máu tụ màng não (Hiện tại không còn hình ảnh máu tụ) xếp 20%. Cơ chế hình thành vết thương các thương tích đã mô tả trên có thể do vật tày có cạnh gây nên. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Ngô Văn H1 tại thời điểm giám định là 40% (bốn mươi phần trăm).

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 512/LTTCT – PYVP của Trung tâm pháp y tỉnh V đối với anh Thân Hữu T1 kết luận: Sẹo mặt sau trong khuỷu tay trái, kích thước nhỏ xếp: 01%; đám biến đổi rối loạn sắc tố da mặt sau trong cẳng tay phải, xếp 0,5%; sẹo mặt sau khuỷu tay trái kích thước nhỏ xếp: 01% và vết biến đổi rối loạn sắc tố da, xếp 0,5%; vết biến đổi rối loạn sắc tố da, mặt trước ngoài gối phải xếp 01%; 02 sẹo mặt trước gối trái kích thước nhỏ, mỗi vết xếp 01%; 01%. Cơ chế hình thành vết thương các thương tích đã mô tả trên có thể do vật tày có cạnh gây nên. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Thân Hữu T1 tại thời điểm giám định là 06% (Sáu phần trăm).

Ngày 20/12/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện B Yêu cầu định giá tài sản số 3678/YC-ĐCSHS-KT-MT đối với xe mô tô BKS: 75AE - 038.50 của anh Ngô Văn H1. Tại bản kết luận định giá tài sản số 178/KL - HĐĐGTS ngày 27/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô BKS: 75AE - 038.50 là 2.181.000₫.

Kết luận giám định thương tích; Kết luận định giá tài sản đã được thông báo cho P, L và bị hại anh Ngô Văn H1, anh Thân Hữu T1, tất cả đều đồng ý và không có ý kiến gì.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm 35/2025/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng L, Phạm Việt P phạm tội “Cố ý gây thương tích".

- Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật

Hình sự. Khoản 1 Điều 119; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên: Xử phạt bị cáo Phạm Việt P 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 12/11/2024.

- Ngoài ra bản án sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo chưa thành niên, người bào chữa cho bị cáo chưa thành niên...

Ngày 18/3/2025 bị cáo Phạm Việt P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Việt P không rút kháng cáo và giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo bị cáo Phạm Việt P. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên.

- Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự. Khoản 1 Điều 119; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên: Xử phạt bị cáo Phạm Việt P 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 12/11/2024.

- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không đề nghị xem xét.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa: Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố bị cáo P đã chết khi bị cáo còn nhỏ, bị cáo có mẹ là người khuyết tật nặng. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Đã bồi thường thiệt hại đủ cho gia đình bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác xử phạt bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Việt P làm trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Qua xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của bản án sơ thẩm. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 03/11/2024, trên đường C thuộc thôn N, xã T, huyện B, do trêu đùa nhau, Nguyễn Hoàng L và Phạm Việt P có hành vi điều khiển xe máy, cầm theo dao phóng lợn tự chế dồn đuổi theo xe anh H1 và anh T1 chém một phát về phía xe của anh H1 nhưng không trúng vào người của anh H1 và anh T1. Vì anh H1 sợ hãi nên tăng ga để né tránh khiến xe bị mất lái, đâm vào dải phân cách cứng, anh H1 và anh T1 bị ngã xuống mặt đường dẫn đến bị thương tích. Hậu quả anh H1 bị chảy máu trên màng cứng, tổn thương nội sọ, vỡ xương sọ và xương mặt; anh T1 bị vết xước da có máu khô đóng vảy. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe theo kết luận giám định của anh H1 là 40%; anh T1 là 6%. Xe máy của anh H1 bị hư hỏng, theo kết luận định giá giá trị phần hư hỏng là 2.181.000₫.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích" Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là không oan sai. Do vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên truy tố bị cáo theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan.

[3] Xét kháng cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Việt P thì thấy:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân, vai trò, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quả, tự nguyện bồi thường thiệt hại; các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra hoàn cảnh gia đình của bị cáo hết sức khó khăn: bố bị cáo P đã chết khi bị cáo còn nhỏ, bị cáo có mẹ là người khuyết tật nặng. Do vậy bị cáo được hưởng các tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù là phù hợp pháp luật có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm mẹ bị cáo là bà N nộp 01 giấy xác nhận khuyết tật của chính bà; 01 bản sao Huân chương kháng chiến hạng Nhì do Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng cho ông Phạm Xuân H2. Bà N1 trình bày đây là huân chương của ông nội bị cáo (Tuy nhiên không có đơn hay xác nhận nội dung này). Về tình tiết bà N1 là mẹ đẻ bị cáo P bị khuyết tật đã được xem xét tại bản án sơ thẩm. Còn 01 bản sao Huân chương kháng chiến hạng Nhì do Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng

thưởng cho ông Phạm Xuân H2 mà N1 đã trình bày là Huân chương của ông nội bị cáo được tặng thưởng. Tuy không có tài liệu nào xác định ông Phạm Xuân H2 là ông nội của bị cáo nhưng Hội đồng xét xử tin vào lời khai của bà N1 và bị cáo P nên tính thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo do có ông nội là người có công với cách mạng. Tuy nhiên, xét trong vụ án này bị cáo P là người chủ động cầm phóng lợn tự chế bằng kim loại có tổng chiều dài 2,64 mét, trong thời điểm nửa đêm về sáng, dồn đuổi trên xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ để chém người khác. Hành vi rất nguy hiểm, làm nạn nhân phóng xe bỏ chạy ngã ra đường gây hậu quả thương tích cho hai người. Hành vi của P và đồng phạm gây tâm lý hoang mang cho bất kỳ ai phải có việc đi ngoài đường vào ban đêm, ảnh hưởng an ninh trật tự trên địa bàn. Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Quan điểm đề xuất của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc là phù hợp nên chấp nhận.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Phạm Việt P không được chấp nhận nên bị cáo Phạm Việt P phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Việt P. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
  2. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên: Xử phạt bị cáo Phạm Việt P 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 12/11/2024.
  3. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Việt P phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND huyện Bình Xuyên;
  • - VKSND huyện Bình Xuyên;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Xuyên;
  • - Công an tỉnh Vĩnh Phúc
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Vĩnh Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HS-PT ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 59/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo P phạm tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger