|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2025/HS-PT Ngày: 06 - 6 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Hoàng Trí Thức. |
| Các Thẩm phán: | Ông Bùi Thái Hùng. |
| Ông Đào Trọng Hải. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 70/2025/TLPT-HS ngày 28/4/2025 đối với bị cáo Lê Thị Hoàng O do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 17/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bị cáo có kháng cáo:
Lê Thị Hoàng O, sinh năm 1993 tại tỉnh Quảng Trị. Nơi cư trú: không đăng ký; Nơi ở hiện tại: Ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: (không rõ); Mẹ: Lê Thị N (đã chết); Chồng, con: không có; Tiền án, tiền sự: không;
Bị tạm giam ngày 01/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
Ngoài ra vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo và không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị Hoàng O là nhân viên Công ty Cổ phần D – Chi nhánh V (tên gọi tắt là: Bưu cục X), làm việc tại điểm Kinh doanh số 2. Địa chỉ: Khu phố X, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tại đây, O có nhiệm vụ, quyền hạn là tiếp nhận, kiểm tra, phân loại hàng hóa của Công ty Cổ phần D (gọi tắt là: Công ty) gửi về kho của Bưu cục X, sau đó giao cho các nhân viên giao hàng theo địa bàn, cuối ngày O có nhiệm vụ tiếp nhận hàng hóa chưa giao được và tiền thu hộ do nhân viên giao hàng về hoàn lại cũng như đối chiếu, kiểm tra hàng hóa, tiền thu hộ đủ thì lập phiếu thu trên hệ thống rồi quản lý hàng hóa, giữ tiền đến sáng hôm sau, có trách nhiệm nộp lại toàn bộ tiền thu hộ về cho Công ty và tiếp tục giao hàng cho nhân viên đi giao.
Do thiếu tiền để trả nợ cho các khoản vay cá nhân qua App (viết tắt của từ A – có nghĩa là Ứng dụng) trước đây nên từ tháng 10 năm 2023, O đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền thu hộ của Công ty để trả cho các ứng dụng vay. Sau khi thực hiện hành vi chiếm đoạt, để không bị Công ty phát hiện, bằng phương thức đầu ca làm việc của ngày hôm sau, O lợi dụng quyền hạn được giao kiểm tra, phân loại rồi chọn các đơn hàng có giá trị cao, ở gần Bưu cục X để đi giao vào đầu giờ sáng, lấy tiền về bù vào phần đã chiếm đoạt của ngày hôm trước hoặc vay mượn của người thân, bạn bè để nộp đủ về cho Công ty.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã tiến hành kiểm tra, xác minh lịch sử giao dịch tại 02 tài khoản do O làm chủ gồm: Tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP C, Chi nhánh V và tài khoản số 0081001252959 mở tại Ngân hàng TMCP N1, Chi nhánh V. Kết quả cho thấy: Trong thời gian từ tháng 10 năm 2023 đến tháng 12 năm 2023, O đã thực hiện 52 giao dịch chuyển tiền từ các tài khoản này để trả nợ cho các ứng dụng vay với số tiền giao dịch mỗi lần từ 200.000 đồng đến 15.780.000 đồng (B1 111-275).
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra, O khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như trên, O nhiều lần chiếm đoạt tiền của Công ty, mỗi lần từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng nhưng không xác định được chính xác ngày giờ cụ thể, mục đích để trả nợ các khoản vay của cá nhân. Trong các khoản nợ vay, đối với những khoản vay dưới 5.000.000 đồng, O dùng tiền cá nhân để trả; đối với những khoản vay có giá trị từ 5.000.000 đồng trở lên thì O dùng tiền đã chiếm đoạt được của Công ty để trả. Ngoài ra, O còn tự ý sử dụng 6.000.000 đồng tiền thu hộ của Công ty để trả tiền thuê các nhân viên giao hàng thời vụ nhưng không có hoá đơn chứng từ. O thừa nhận, đến ngày 05 tháng 02 năm 2024, O đã chiếm đoạt của Công ty tổng số tiền là 45.000.000 đồng (B1 43-71).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 17/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Hoàng O phạm tội “Tham ô tài sản”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Thị Hoàng O 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ngày 01/8/2024.
Ngoài ra bản án còn tuyên xử trách nhiệm dân sự, tiền án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 21/3/2025 bị cáo Lê Thị Hoàng O có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, không bị oan; không bổ sung tài liệu chứng cứ mới, xin được giảm nhẹ hình phạt.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- + Về tố tụng: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- + Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Thị Hoàng O 07 (bảy) năm tù là phù hợp. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được chứng cứ nào mới làm căn cứ để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, các chứng cứ đã được thẩm tra có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, thể hiện: Bị cáo Lê Thị Hoàng O có ký Hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần D (gọi tắt là: Công ty), được Công ty giao nhiệm vụ, quyền hạn quản lý hàng và tiền thu hộ tại địa điểm kinh doanh số 2 thuộc khu phố X, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Trong thời gian làm việc tại đây, do thiếu tiền để trả nợ cho các khoản vay cá nhân nên bị cáo đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền thu hộ của Công ty để trả cho các khoản vay của mình. Quá trình điều tra xác định, từ tháng 10/2023 đến ngày 05/02/2024 bị cáo đã nhiều lần chiếm đoạt tiền của Công ty, mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng. Tổng cộng 45.000.000 đồng.
Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Thị Hoàng O đã phạm tội “Tham ô tài sản” với tình tiết định khung phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắn và xâm phạm quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của tổ chức kinh tế ngoài nhà nước làm ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp, tạo dư luận xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xử nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 07 năm tù.
Xét thấy, mặc dù bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới, tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, với mức án 7 năm tù của Bản án sơ thẩm đã tuyên có phần nghiêm khắc đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xem xét xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Hoàng O, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 17/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Hoàng O phạm tội “Tham ô tài sản”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 và Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Thị Hoàng O 05 (Năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/8/2024.
2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 17/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí: Bị cáo Lê Thị Hoàng O không phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Trí Thức |
Bản án số 59/2025/HS-PT ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự (tham ô tài sản)
- Số bản án: 59/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tham ô tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Hoàng Oanh - Tham ô tài sản
