Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HNGĐ – ST

Ngày: 30/06/2025

“Về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Lĩnh Thái

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hảo

Bà Phùng Thị Quỳnh Hòe

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 146/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 45/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13/06/2025 giữa:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1991.

Nơi ĐKHKTT: khối A, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An;

Nơi ở hiện nay: số A, đường L, phường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt

- Bị đơn: anh Nguyễn Bá T1, sinh năm 1990.

Nơi ĐKHKTT: khối A, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An;

Nơi ở hiện nay: số A, đường L, phường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 06/01/2025, tại bản tự khai, các biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Bá T1 đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 10/01/2017 tại UBND phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Anh T1 là một người ham chơi, thường xuyên tụ tập bạn bè nhậu nhẹt, không có trách nhiệm với gia đình. Chị T và anh T1 đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Mặc dù chị T đã cho anh T1 nhiều cơ hội nhưng anh T1 không sửa chữa, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng sâu sắc. Do vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được chị Nguyễn Thị T xin được ly hôn với anh Nguyễn Bá T1.

Về con chung, vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Bá Minh K, sinh ngày 04/5/2020 và Nguyễn Bá Hồng Đ, sinh ngày 16/8/2017. Nay ly hôn, chị Nguyễn Thị T có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Minh K và cháu Hồng Đăng. Từ trước tới giờ hai cháu đều ở với mẹ. Anh T1 làm nghề lái xe, thường xuyên vắng nhà, không thể chăm sóc con. Yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000₫ (Hai triệu đồng)/tháng/cháu. Thời gian cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về khoản nợ: Vợ chồng không vay nợ ai, không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ cho anh Nguyễn Bá T1 nhưng anh T1 đều vắng mặt không có lý do, không chấp hành các văn bản tố tụng, không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó tại hồ sơ vụ án không có bản tự khai của anh Nguyễn Bá T1, vụ án không tiến hành hòa giải được. Chị Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu không tiếp tục tiến hành hòa giải nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý vụ án, thông báo thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác minh và thu thập chứng cứ, tổ chức hòa giải cũng như thời hạn giải quyết vụ án.
  • Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định về thành phần, nguyên tắc xét xử, trình tự tố tụng tại phiên tòa.
  • Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Bị đơn chấp hành không nghiêm chỉnh quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xử:
  • Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Bá T1;
  • Về con chung, giao cháu Nguyễn Bá Minh K, sinh ngày 04/5/2020 và Nguyễn Bá Hồng Đ, sinh ngày 16/8/2017 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh Nguyễn Bá T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/tháng/cháu; thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 06 năm 2025 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Về tài sản chung, nợ chung: Miễn xét.
  • Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Đây là vụ án hôn nhân gia đình do chị Nguyễn Thị T yêu cầu, bị đơn anh Nguyễn Bá T1 có nơi ĐKHKTT ở khối A, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện nay: số A, đường L, phường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Bá T1. Tuy nhiên, anh Nguyễn Bá T1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

[2]. Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử xét thấy:

  • - Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Bá T1 đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 10/01/2017 tại UBND phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Như vậy, hôn nhân vợ chồng là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Chị T trình bày, quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Anh T1 là một người ham chơi, thường xuyên tụ tập bạn bè nhậu nhẹt, không có trách nhiệm với gia đình. Chị T và anh T1 đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Mặc dù chị T đã cho anh T1 nhiều cơ hội nhưng anh T1 không sửa chữa, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng sâu sắc. Theo kết quả xác minh tại UBND phường N, vợ chồng chị T anh T1 có phát sinh mâu thuẫn nhưng nguyên nhân cụ thể thì UBND phường không nắm được. Anh Nguyễn Bá T1 không hợp tác với Tòa án trong quả trình giải quyết vụ án, không có bản tự khai trình bày quan điểm của mình. Điều này chứng tỏ anh T1 không có ý thức níu kéo, gìn giữ hạnh phúc gia đình. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị T, anh Thành thực S trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Bá T1.
  • - Về quan hệ con chung: vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Bá Minh K, sinh ngày 04/5/2020 và Nguyễn Bá Hồng Đ, sinh ngày 16/8/2017. Từ trước tới nay, cả hai cháu đều ở với mẹ. Nay ly hôn, chị Nguyễn Thị T có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Minh K và cháu Hồng Đăng. Anh T1 làm nghề lái xe, thường xuyên vắng nhà, không thể chăm sóc con. Yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000₫ (Hai triệu đồng)/tháng/cháu. Thời gian cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Bá T1 không có văn bản thể hiện quan điểm của mình về vấn đề nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi con của chị T là chính đáng, mức yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con phù hợp. Để cháu Nguyễn Bá Minh K, Nguyễn Bá Hồng Đ phát triển đầy đủ thể chất, tinh thần, ổn định cuộc sống cần giao cháu Minh K, Hồng Đ cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh Nguyễn Bá T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/01tháng/01 cháu. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 06 năm 2025 cho đến khi cháu Minh K, cháu Hồng Đ đủ 18 tuổi trưởng thành.
  • Anh Nguyễn Bá T1 được quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

[3]. Về án phí:

Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm; anh Nguyễn Bá T1 phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, 35, 39, 147, 227, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Bá T1.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bá Minh K, sinh ngày 04/5/2020 và Nguyễn Bá Hồng Đ, sinh ngày 16/8/2017 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh Nguyễn Bá T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000₫ (Hai triệu đồng)/tháng/cháu; thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 06 năm 2025 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành.
  3. Anh Nguyễn Bá T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
  4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Về tài sản chung và khoản nợ: Miễn xét
  7. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo biên lai số 0005295 ngày 17 tháng 3 năm 2025. Anh Nguyễn Bá T1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung,
  8. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Anh Nguyễn Bá T1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND thành phố Vinh;
  • - Chi cục THADS thành phố Vinh;
  • - UBND phường Bến Thủy;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lĩnh Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HNGĐ – ST ngày 30/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 59/2025/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger