Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HNGĐ-ST

Ngày 30 tháng 5 năm 2025

“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Chi;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo;

Bà Nguyễn Thị Phẩm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025 giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị N, sinh năm 1990.

    Nơi ĐKHKTT: Khu A, xã P, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

    Nơi ở hiện tại: Khu Đoàn Kết, xã Đồng Thịnh, huyện Yên Lập, Phú Thọ

  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985.

    Nơi ĐKHKTT: Khu A, xã P, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

    Hiện đang ở nước ngoài (Đài Loan).

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1962 và bà Trần Thị T2, sinh năm 1959.

    Địa chỉ: Khu A, xã P, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

(Chị Đinh Thị N, ông Nguyễn Thanh T1 và bà Trần Thị T2 vắng mặt đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Văn T vắng mặt lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03/3/2025 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Đinh Thị N trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, tỉnh Phú Thọ ngày 08/12/2009. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đến năm 2018 hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và cách xây dựng làm ăn kinh tế, là người vợ, chị đã cố gắng khắc phục nhưng hai vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018, hiện chị không ở cùng nhà chồng mà về ở cùng chị gái ở xã Đ, huyện Y. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị ly hôn với anh T để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị N xác định vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Khánh H, sinh ngày 12/11/2010 và cháu Nguyễn Đức D, sinh ngày 06/01/2015. Chị đề nghị Tòa án cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng.

Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị N không đề nghị Tòa án giải quyết.

Phía bị đơn: Anh Nguyễn Văn T hiện đang ở nước ngoài thể hiện tại công văn số: 236/PA08-Đ1 ngày 13/3/2025 của Phòng PA08 Công an tỉnh P xác định anh T xuất cảnh ngày 01/7/2024 qua cửa khẩu N1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Do chị N không biết địa chỉ của anh T ở đâu tại nước ngoài nên Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của ông Nguyễn Thanh T1 và bà Trần Thị T2 là bố, mẹ của anh T và được ông T1 và bà T2 cung cấp như sau: Hiện tại anh T đang ở Đài Loan địa chỉ cụ thể ông, bà không biết. Nhưng ông, bà và anh T vẫn thường xuyên liên lạc qua Zalo hoặc Facebook, ông T1 và bà T2 đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh T và yêu cầu ông, bà cung cấp địa chỉ của anh T ở nước ngoài, ông, bà đã thông báo cho anh T biết xong anh T không cung cấp địa chỉ cho ông, bà để cung cấp cho Tòa án. Thông qua điện thoại ông T1 và bà T2 đã trao đổi nội dung chị N xin ly hôn anh T và anh T có quan điểm không nhất trí ly hôn, việc chị N muốn ly hôn là quyền của chị N.

Về con chung: Ông T1 và bà T2 xác định vợ chồng chị N và anh T có hai con chung là cháu Nguyễn Khánh H, sinh ngày 12/11/2010 và cháu Nguyễn Đức D, sinh ngày 06/01/2015. Hiện các cháu đang ở cùng với ông bà. Nếu phải ly hôn, anh T có quan điểm đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Trong thời gian anh T ở nước ngoài, ông bà đồng ý thay mặt anh T trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu đến khi anh T về nước ông bà giao các cháu lại cho anh T. Ông bà yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi các cháu số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)/01 cháu/01 tháng, phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.

* Tại tòa, cháu Nguyễn Khánh H có nguyện vọng ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Cháu Nguyễn Đức D có nguyện vọng ở với bố khi bố mẹ ly hôn.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về những nội dung sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng quy định trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung đề nghị hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 56,57,81,82,83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

  • - Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đinh Thị N. Cho chị Đinh Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
  • - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Khánh H, sinh ngày 12/11/2010 và cháu Nguyễn Đức D, sinh ngày 06/01/2015 cho chị N nuôi dưỡng. Anh T có quyền, nghĩa vụ đối với con chung sau ly hôn theo quy định của pháp luật.
  • - Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức đóng góp: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Chị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn T đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu A, xã P, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Theo Công văn số: 236/PA08-Đ1 ngày 13/3/2025 của Phòng PA08 Công an tỉnh P xác định anh T xuất cảnh ngày 01/7/2024 qua cửa khẩu N1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Căn cứ khoản 3 điều 35, điểm a khoản 1 điều 37; điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Trong vụ án này anh T không có mặt ở Việt Nam nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng với quy định của pháp luật.

Chị N đề nghị xin ly hôn với anh T và chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của anh T mà không cung cấp được địa chỉ anh T ở chỗ nào tại nước ngoài. Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng thông qua bố, mẹ đẻ của anh T là ông Nguyễn Thanh T1 và bà Trần Thị T2. Ông T1 và bà T2 đã thông báo cho anh T biết, ông T1 và bà T2 không biết địa chỉ cụ thể của anh T ở đâu tại nước ngoài, bản thân anh T không cung cấp địa chỉ mặc dù đã được ông T1 và bà T2 thông báo. Căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tại phiên tòa chị Đinh Thị N, ông Nguyễn Thanh T1 và bà Trần Thị T2 vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị N và anh Nguyễn Văn T kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 08/12/2009 tại UBND xã P, huyện H, tỉnh Phú Thọ, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, theo chị N trình bày giữa chị N và anh T có xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu là quan điểm sống không hợp nhau, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Mặc dù anh T không có lời khai song thông qua ông T1 và bà T2 là mẹ của anh T cung cấp quan điểm của anh T không nhất trí ly hôn với chị N. Mặt khác, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy chị N và anh T là vợ chồng nhưng không liên lạc và không biết địa chỉ của nhau, hai anh chị đã sống ly thân nhiều năm nay, chị N không còn sống cùng với nhà bố mẹ chồng mà chuyển đi nơi khác để ở, theo đó cho thấy anh chị đã không còn quan tâm, trách nhiệm gì với nhau theo nghĩa vợ chồng. Do vậy, có căn cứ để xác định tình cảm vợ chồng giữa chị N và anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xử cho chị N được ly hôn anh T là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị N và anh T có hai con chung là cháu Nguyễn Khánh H, sinh ngày 12/11/2010 và cháu Nguyễn Đức D, sinh ngày 06/01/2015. Chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, chị N không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng. Về phía ông T1 và bà T2 là bố, mẹ đẻ của anh T cung cấp anh T cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, trong thời gian anh T ở nước ngoài, ông T1 và bà T2 cũng đồng ý thay mặt anh T trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu.

Xét thấy: Nguyện vọng được nuôi con chung là nguyện vọng chính đáng của đương sự nên cần xem xét nguyện vọng phù hợp với quy định của pháp luật. Tại tòa cháu H cũng có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn, cháu D trình bày ý kiến muốn ở với bố nhưng tạm thời cháu sẽ ở với ông bà nội. Hội đồng xét xử thấy rằng việc giao con chung cho ai nuôi cần đảm bảo cuộc sống mọi mặt cho các cháu. Trên thực tế anh T đang ở nước ngoài không ở Việt Nam không thể trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các cháu, việc giao các cháu cho ai trực tiếp nuôi dưỡng phải đảm bảo sự phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần. Vì vậy, để các cháu có điều kiện sống tốt nhất và ổn định thì cần giao cháu H và cháu D cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng của chị N là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị N tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N là yêu cầu tự nguyện phù hợp với pháp luật cần xác nhận.

[3] Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị N không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí: Chị N phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 56, điều 81, điều 82, điều 83 và điều 123 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 điều 35, điểm a khoản 1 điều 37; điểm a khoản 1 điều 39; khoản 2 điều 207; điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1, 3 điều 228; khoản 1, 2 điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

[2] Về con chung: Giao cho chị Đinh Thị N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung là cháu Nguyễn Khánh H, sinh ngày 12/11/2010 và cháu Nguyễn Đức D, sinh ngày 06/01/2015. Xác nhận chị N tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Anh T có quyền, nghĩa vụ trông nom, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

[3] Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Đinh Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị N đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số: 0000570 ngày 25/3/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

[5] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Đương sự có mặt tại Việt Nam có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án để đề nghị Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Đương sự cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - Cục THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Phương Viên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 59/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Đinh Thị N xin ly hôn anh Nguyễn Văn T và được chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger