|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30/5/2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Giả Huệ Tiên.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chu.
2. Bà Võ Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Long – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Kim Tiến – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2025/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1988 (vắng có đơn)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1980 (vắng có đơn)
Địa chỉ: 2 ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/12/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn L tự nguyện tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn vào ngày 09/01/2012 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, tình cảm ngày càng rạn nứt trầm trọng không thể hàn gắn. Từ tháng 02/2020, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà và ông L có 02 con chung là Nguyễn Xuân A, sinh ngày 05/11/2012 và Nguyễn Trí A1, sinh ngày 11/10/2014. Hiện hai con chung đang sống cùng bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn L trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị T tự nguyện tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn vào ngày 09/01/2012 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, tình cảm ngày càng rạn nứt trầm trọng không thể hàn gắn. Từ tháng 02/2020, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay ông đồng ý ly hôn với bà T.
Về con chung: Quá trình chung sống, ông và bà T có 02 con chung là Nguyễn Xuân A, sinh ngày 05/11/2012 và Nguyễn Trí A1, sinh ngày 11/10/2014. Hiện hai con chung đang sống cùng bà T. Khi ly hôn, ông đồng ý giao hai con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
* Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát:
- Về thủ tục: Thẩm phán đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục giải quyết của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán chấp hành đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định, đảm bảo cho các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia giải quyết vụ án nên đủ điều kiện đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Việc nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và phiên tòa xét xử vắng mặt đương sự là đúng theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị:
+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
+ Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Xuân A, sinh ngày 05/11/2012 và Nguyễn Trí A1, sinh ngày 11/10/2014 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn L kết hôn vào năm 2012 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. Do đó, hôn nhân của bà T và ông L là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, bà T và ông L thống nhất cho rằng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2014 do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, tình cảm vợ chồng rạn nứt trầm trọng không thể hàn gắn và hai bên đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay bà T xác định không còn tình cảm với ông L nên yêu cầu ly hôn và ông L đồng ý.
Nhận thấy, bà T và ông L mâu thuẫn đã lâu và đã có thời gian ly thân nhưng cả hai không thể hàn gắn được. Bà T và ông L đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt chứng tỏ cả hai không có thiện chí hàn gắn cùng nhau. Qua đó thấy rằng tình trạng hôn nhân của bà T và ông L đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống, bà T và ông L có 02 con chung Nguyễn Xuân A, sinh ngày 05/11/2012 và Nguyễn Trí A1, sinh ngày 11/10/2014.
Xét yêu cầu của bà T về việc được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, thấy rằng: Hiện hai cháu Xuân A và Trí A1 đang sống cùng bà T. Tại văn bản trình bày nguyện vọng ngày 24/3/2025, hai cháu Xuân A và Trí A1 có nguyện vọng được sống cùng mẹ sau khi cha, mẹ ly hôn. Ông L đồng ý giao hai con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao hai cháu Xuân A và Trí A1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử ghi nhận Bà T tự nguyện không yêu cầu ông L cấp dưỡng cho con.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không ai có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Xét quan điểm đề nghị về nội dung giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải nộp án phí hôn nhân gia đình theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T. Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
2. Về con chung: Có hai con chung là Nguyễn Xuân A, sinh ngày 05/11/2012 và Nguyễn Trí A1, sinh ngày 11/10/2014. Bà Nguyễn Thị T có quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung Nguyễn Xuân A và Nguyễn Trí A1.
Ghi nhận bà Nguyễn Thị T tự nguyện không yêu cầu ông Nguyễn Văn L cấp dưỡng cho con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải nộp án phí hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 ( ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0009101 ngày 21/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Giả Huệ Tiên |
Bản án số 59/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 59/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
