|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27-6-2025 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Vinh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Quách Thị Thu Hương.
2. Ông Trần Văn Kiêu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tú Nguyên - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận tham gia phiên tòa:
Bà Võ Thị Tuyết Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025 về “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/6/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1985; địa chỉ: Khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. (Có đơn xin vắng mặt phiên tòa)
* Bị đơn: Ông Thạch Tấn A, sinh năm 1981; địa chỉ: Khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. (Có đơn xin vắng mặt phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/5/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Bà H và ông A qua thời gian tìm hiểu sau đó chung sống nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng xuất hiện nhiều điểm bất đồng trong cuộc sống gia đình, vợ chồng thường xuyên cự cãi, mặt dù đã cố gắng hàn gắn để hạnh phúc gia đình không bị đổ vỡ nhưng vẫn không có kết quả, cuộc sống hôn nhân vẫn tiếp tục xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà H xác định vợ chồng không còn tình cảm nên yêu cầu được ly hôn với ông A.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có con chung 01 người con chung là Thạch Tấn T, giới tính: Nam, sinh ngày 15/3/2011, hiện nay con đang sống chung với ông A, nay ly hôn bà H yêu cầu giao con cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà H xác định vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Nợ chung: bà H xác định vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai đề ngày 20 tháng 5 năm 2025 ông Thạch Tấn A trình bày: vợ chồng ông qua thời gian tìm hiểu sau đó chung sống nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng xuất hiện nhiều điểm bất đồng trong cuộc sống gia đình, vợ chồng thường xuyên cự cãi, mặt dù đã cố gắng hàn gắn để hạnh phúc gia đình không bị đổ vỡ nhưng vẫn không có kết quả, cuộc sống hôn nhân vẫn tiếp tục xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà H yêu cầu ly hôn ông đồng ý.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có con chung 01 người con chung là Thạch Tấn T, sinh ngày 15/3/2011, giới tính: Nam, hiện nay con đang sống chung với ông, nay ly hôn ông A đồng ý tiếp tục nuôi con chung không yêu cầu bà H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: ông A xác định vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Nợ chung: ông A xác định vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Quá trình thụ lý vụ án, chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, đúng tư cách tham gia tố tụng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, tiến hành thu thập chứng cứ đúng trình tự, thủ tục. Các đương sự chấp hành tốt các quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 9, Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị H và ông Thạch Tấn A.
Về con chung: Ghi nhận sự thoả thuận của ông A, bà H giao cháu Thạch Tấn T, giới tính: nam, sinh ngày 15/3/2011 cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng khi ly hôn. Bà H không phải cấp dưỡng nuôi con do ông A không yêu cầu.
Về tài sản chung: Bà H và ông A xác định vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Nợ chung: Bà H và ông A xác định vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, xét thấy sự vắng mặt của ông A, bà H không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông A, bà H.
Nguyên đơn bà H yêu cầu ly hôn với bị đơn ông A, yêu cầu giải quyết con chung. Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”; bà H yêu cầu ly hôn với ông A, ông A có nơi cư trú tại khu phố V, thị trấn V, huyện V theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện nên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận thụ lý giải quyết là phù hợp.
[2] Nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông A chung sống là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn, quá trình chung sống ông, bà không đến Ủy ban nhân dân có thẩm quyền để đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng. Trong quá trình chung sống ông, bà xảy ra nhiều mâu thuẫn nên bà H xin ly hôn, ông A thống nhất về yêu cầu ly hôn của bà H. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị H và ông Thạch Tấn A.
[2.2] Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có con chung 01 người con chung là Thạch Tấn T, sinh ngày 15/3/2011, giới tính: Nam, hiện nay con đang sống chung với ông A. Nay ly hôn bà H, ông A thoả thuận, bà H giao con chung cho ông A tiếp tục nuôi dưỡng, bà H không phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Giao con chung là Thạch Tấn T, sinh ngày 15/3/2011, giới tính: Nam, cho ông A tiếp tục nuôi dưỡng. Bà H không phải cấp dưỡng nuôi con. Do ông A không có yêu cầu.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:
Về tài sản chung và nợ chung:
Về tài sản chung: Ông A, bà H xác định vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Nợ chung: Ông A, bà H xác định vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 6, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng bà H chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0011567 ngày 05 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 21, khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 9, Điều 14, Điều 57, Điều 81, Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị H và ông Thạch Tấn A.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 người con chung là Thạch Tấn T, sinh ngày 15/3/2011, giới tính: Nam, hiện nay con đang sống chung với ông A. Nay ly hôn bà H, ông A thoả thuận, bà H giao con chung cho ông A tiếp tục nuôi dưỡng, bà H không phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Giao con chung là Thạch Tấn T, sinh ngày 15/3/2011, giới tính: Nam, cho ông A tiếp tục nuôi dưỡng. Bà H không phải cấp dưỡng nuôi con. Do ông A không có yêu cầu, điều này phù hợp với nguyện vọng của cháu T. (Trừ trường hợp có yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật).
- Về tài sản chung và nợ chung:
Về tài sản chung: Ông A, bà H xác định vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Nợ chung: Ông A, bà H xác định vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, bà H chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0011567 ngày 05 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.
- Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận: THẨM
TÒA
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN Trần Thị Mỹ Vinh |
Bản án số 59/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 59/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Hồng yêu cầu ly hôn với ông An
