|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2025/HNGĐ-ST
Ngày 24 - 02 - 2025
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành
Ông Trần Mai Khanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Mạnh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 592/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L ngày 04/5/1991. Nơi cư trú: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ AnĐề nghị vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Chu Văn Hiếu sinh ngày 02/7/1989. Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ AnHiện đang cư trú tại Đài Loan (Trung Quốc). Vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 15 tháng 5 năm 2024, lời khai chị Nguyễn Thị L1 bày: Chị L3 anh Chu Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký ngày 30 tháng 12 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được 04 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng lẫn nhau. Tháng 4 năm 2024, anh H1 cảnh sang Đài Loan (Trung Quốc) làm việc và hai người cắt đứt mọi liên lạc, không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay xác định, mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị L yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn anh Chu Văn H để giải phóng cho nhau.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Chu M H1sinh ngày 09/8/2022, hiện đang do chị L chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị L có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng.
- Về tài sản chung; nợ chung: Chị L không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về phía anh Chu Văn H: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh Chu Văn H thông qua ông Chu Văn T bà Phạm Thị M1 mẹ của anh H3 Anh Chu Văn H đã biết được việc chị Nguyễn Thị L2 yêu cầu ly hôn và nuôi con chung, nhưng hiện anh Chu Văn H vắng mặt và cũng không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ và đương sự tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của họ. Đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L2; cho ly hôn giữa chị L3 anh H; giao con chưa thành niên cho chị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; tài sản chung chưa giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng: Anh Chu Văn H hiện đang ở nước ngoài, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, theo ông Chu Văn T bà Phạm Thị M2(bố mẹ của anh H) cung cấp; anh Chu Văn H hiện đang cư trú, làm việc tại Đài Loan (Trung Quốc). Mặc dù không biết nơi cư trú cụ thể, nhưng anh H thường xuyên liên lạc điện thoại với ông T1 M và người thân trong gia đình; anh Chu Văn H đã biết được việc chị Nguyễn Thị L2 yêu cầu ly hôn, nuôi con chung nhưng anh H không có ý kiến gì. Do đó, việc anh Chu Văn H vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo. Đối với chị Nguyễn Thị L2 đã có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án và có đơn đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 207, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành giải quyết, xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
-
Về nội dung:
- Tại phiên tòa, mặc dù vắng mặt nhưng chị Nguyễn Thị L2 vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện, yêu cầu ly hôn anh Chu Văn H và nuôi con chưa thành niên. Xét thấy, chị Nguyễn Thị L3 anh Chu Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được 04 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng lẫn nhau. Tháng 4 năm 2024, anh H1 cảnh sang Đài Loan (Trung Quốc) làm việc và hai người cắt đứt mọi liên lạc, không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay chị Nguyễn Thị L2 xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn; mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho họ ly hôn để giải phóng cho nhau.
-
Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị L3 anh Chu Văn H có 01 con chung là cháu Chu M H1sinh ngày 09/8/2022, hiện đang do chị L chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh H đang ở nước ngoài chưa có điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung, nên cần giao cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là phù hợp. Về cấp dưỡng, hiện chị L4 yêu cầu và anh H cũng chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét.
Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chưa thành niên, anh Chu Văn H2 chị Nguyễn Thị L2 có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Tài sản chung: Hiện tại chị Nguyễn Thị L2 không yêu cầu và anh Chu Văn H cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L2 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 207; khoản 3 Điều 228; khoản 1, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự và các Điều 53, 56, 81, 82, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L3 anh Chu Văn H3
-
Về nuôi con chung:
- Giao con chung cháu Chu M H1sinh ngày 09/8/2022 cho chị Nguyễn Thị L2 trực tiếp nuôi dưỡng.
-
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị L2 không yêu cầu và anh Chu Văn H chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét.
Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các con chưa thành niên, anh Chu Văn H2 chị Nguyễn Thị L2 có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L2 phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0013569 ngày 27/11/2024.
-
Về quyền kháng cáo:
- Chị Nguyễn Thị L2 có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được tống đạt hợp lệ bản sao bản án sơ thẩm.
- Anh Chu Văn H đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết bản sao bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Phấn |
4
Bản án số 59/2025/HNGĐ-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 59/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn Chị Nguyễn Thị L, Bị đơn: Anh Chu Văn Hiếu tranh chấp về hôn nhân gia đình
