TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 59/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18 - 6 - 2025 “Về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Trí.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Ngọc Hữu và bà Phan Thị Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Biện Việt Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2025/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 02 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 05 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thị H, sinh năm 1988; (Vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Gia Đ, sinh năm 1984; (Vắng mặt không có lý do)
Cùng nơi cư trú: xóm A, khu phố T, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Theo đơn khởi kiện và lời khai đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị H và anh Gia Đ tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2003, nhưng vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi chung sống với nhau thì cả hai chung sống không hanh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn bắt nguồn từ việc anh Đ thường xuyên đánh đập, chửi bới vợ con, không lo làm ăn.
Hiện nay chị H không có nguyện vọng kết hôn với anh Đ và yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị H và anh Đ có 04 người con chung tên là Gia T, sinh năm 2003; Gia L, sinh năm 2005; Gia Đ1, sinh năm 2008 và Thị L1, sinh năm 2008. Cháu T và cháu L đều đã thành niên và có khả năng lao động nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con. Nếu ly hôn chị H yêu cầu được quyền nuôi 02 người con chung tên Gia Đ1, sinh năm 2008 và Thị L1, sinh năm 2008 đến khi thành niên.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị H không có yêu cầu nào khác trong vụ án.
[2]. Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ đầy đủ Giấy triệu tập và các văn bản tố tụng nhưng bị đơn anh Gia Đ không tham gia tố tụng và vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án không thu thập được lời khai của anh Đ.
[3]. Các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:
Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp: 01 bản sao có chứng thực Căn cước công dân của chị Thị H; 01 bản sao có chứng thực Căn cước công dân của anh Gia Đ; 01 Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 40/UBND-XNTTHN ngày 07/02/2025 của UBND thị trấn L; 01 Bản sao có chứng thực Giấy khai sinh mang tên Gia L; 01 Bản sao có chứng thực Giấy khai sinh mang tên Gia T; Bản sao có chứng thực Giấy khai sinh mang tên Gia Đ1; Bản sao có chứng thực Giấy khai sinh mang tên Thị L1;
Ngoài ra, Tòa án còn tiến hành xác minh tại địa phương thị trấn L về mâu thuẫn của vợ chồng chị H và anh Đ.
[4]. Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh:
- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến đề nghị việc giải quyết vụ án: Đại diện viện kiểm sát đề nghị xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Thị H và anh Gia Đ; Giao cho chị Thị H yêu cầu được quyền nuôi 02 người con chung tên Gia Đ1, sinh năm 2008 và Thị L1, sinh năm 2008 đến khi thành niên; buộc Thị Hằng phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh; sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Thị H vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét vắng mặt; bị đơn anh Gia Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Trong vụ án, chỉ có yêu cầu của nguyên đơn chị Thị H, yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con; ngoài ra không có yêu cầu nào khác của các đương sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhận định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn” là đúng pháp luật.
Tranh chấp dân sự quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp; các đương sự có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về yêu cầu giải quyết ly hôn của nguyên đơn chị Thị H, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ vào Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 40/UBND-XNTTHN ngày 07/02/2025 của UBND thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận mà nguyên đơn chị Thị H đã cung cấp; căn cứ lời khai phù hợp của nguyên đơn; có đủ cơ sở để xác định được chị Thị H và anh Gia Đ tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2003 nhưng đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng đối với chị H, anh Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình; đồng thời khi có yêu cầu ly hôn thì cần giải quyết tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình.
Quá trình tố tụng, chị H xác định: Sau khi chung sống với nhau thì cả hai chung sống không hanh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn bắt nguồn từ việc anh Đ thường xuyên đánh đập, chửi bới vợ con, không lo làm ăn. Hiện nay chị H không có nguyện vọng kết hôn với anh Đ và yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Đ. Tại biên bản xác minh tại địa phương thị trấn L cung cấp thông tin: Chị H và anh Đ xảy ra mâu thuẫn đã lâu, nguyên nhân do anh Đ thường xuyên nhậu nhẹt, say xĩn, mỗi lần nhậu say về chửi mắng vợ con, không lo làm ăn, chăm sóc gia đình.
Do đó, có đủ cơ sở để xác định được giữa chị H và anh Đ đã xảy ra mâu thuẫn nghiêm trọng, cuộc sống không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy yêu cầu giải quyết ly hôn của chị H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận, xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Thị H và anh Gia Đ.
[3.2] Về việc nuôi con:
Căn cứ 01 Bản sao có chứng thực Giấy khai sinh mang tên Gia L; 01 Bản sao có chứng thực Giấy khai sinh mang tên Gia T; Bản sao có chứng thực Giấy khai sinh mang tên Gia Đ1; Bản sao có chứng thực Giấy khai sinh mang tên Thị L1 mà nguyên đơn chị Thị H đã cung cấp; căn cứ lời khai thống nhất của nguyên đơn chị Thị H; có đủ cơ sở xác định chị H và anh Đ có 04 người con chung tên Gia T, sinh năm 2003; Gia L, sinh năm 2005; Gia Đ1, sinh năm 2008 và Thị L1, sinh năm 2008. Cháu T và cháu L đều đã thành niên và có khả năng lao động nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con. Nếu ly hôn chị H yêu cầu được quyền nuôi 02 người con chung tên Gia Đ1, sinh năm 2008 và Thị L1, sinh năm 2008 đến khi thành niên.
Xét thấy: Yêu cầu nuôi con của chị H là hoàn toàn chính đáng; cháu Đ1 và cháu L có nguyện vọng được ở với chị H và đang do chị H nuôi dưỡng ổn định; Quá trình tố tụng anh Gia Đ đều vắng mặt không có lý do, không tham gia tố tụng để thực hiện quyền, trình bày ý kiến, nguyện vọng, yêu cầu cầu của mình về việc nuôi con. Nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt đối với con chưa thành niên cần chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cho chị H có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 người con chung tên Gia Đ1, sinh ngày 11/01/2008 và Thị L1, sinh ngày 11/01/2008 cho đến khi thành niên; anh Gia Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Các đương sự đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét xử, giải quyết trong vụ án này.
[3.4] Về án phí: Cần căn cứ khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Xử buộc chị Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4] Về ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận:
Ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh là có căn cứ và phù hợp với quy định của Pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 4 điều 147, các Điều 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thị H: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Thị H và anh Gia Đ.
[2]. Về con chung: Giao cho chị Thị H có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 người con chung tên Gia Đ1, sinh ngày 11/01/2008 và Thị L1, sinh ngày 11/01/2008 cho đến khi thành niên;
Anh Gia Đ không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình.
[3]. Về án phí: Buộc chị Thị H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001518 ngày 11/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; sau khi khấu trừ, chị Thị H đã nộp đủ án phí.
[4]. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).
Nơi nhận:
- - VKSND huyện Tánh Linh;
- - Các đương sự;
- - CC THADS h. Tánh Linh;
- - UBND thị trấn Lạc Tánh (thay T/B);
- - Lưu hồ sơ, Văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Mạnh Trí |
Bản án số 59/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 59/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng
