Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 13 – 6 – 2025

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Kiều Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Khưu Liên Dung
  2. Bà Dư Thị Út

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 157/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phạm Quốc C, sinh năm 1969. (có mặt).

Hộ khẩu thường trú: Khóm Đ, phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

Chỗ ở hiện nay: Số B, ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1972. (vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: Khóm Đ, phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

Chỗ ở hiện nay: Số B, ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 21/3/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa nguyên đơn ông Phạm Quốc C trình bày:

- Về hôn nhân: Ông và bà D tự nguyện chung sống vợ chồng, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương vào năm 1994. Có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, thị xã B, tỉnh Minh Hải (nay Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu) cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 01/01/1994. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống bình thường, sau đó mỗi người có cách nhìn nhận, ứng xử trong đời sống vợ chồng, cách nuôi dạy con cái, cách làm ăn phát triển kinh tế gia đình, cách cư xử với người thân với nhau không phù hợp, tình cảm vợ chồng nhạt nhẽo dần, bà D không thương yêu quý trọng ông như trước, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Vào năm 2014 ông có nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà D nhưng được gia đình, bạn bè hai bên động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng nên ông đã rút đơn. Sau đó thì vợ chồng vẫn tiếp tục mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân từ khi còn sống chung nhà, đến khoảng tháng 02/2023 ông đã dọn ra ngoài sống riêng và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay ông nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông ly hôn với bà D.

- Về con chung: Ông xác định ông và bà D có 03 con chung là Phạm Kim T, sinh năm 1994, Phạm Kim K, sinh năm 2001 và Phạm Thanh T1, sinh năm 2006, các con đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Bà D cho rằng người con thứ hai bị bệnh trầm cảm là không đúng vì cháu đi làm bị áp lực công việc không làm nổi, lương tháng cũng ổn nhưng cháu đòi nghỉ việc, hiện tại cháu cũng đang đi học lớp cao hơn, sức khỏe tinh thần vẫn bình thường.

- Về tài sản chung: Ông và bà Dư tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/4/2025 bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D trình bày:

Về hôn nhân, bà D thống nhất vợ chồng chung sống với nhau từ năm 1994 và vợ chồng có đăng ký kết hôn như ông C trình bày. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến lhoangr năm 2008 vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm chủ yếu là về kinh tế, ông C đi vay mượn nợ bà không hay biết, sau này bà phải đứng ra trả cho ông C, đến năm 2022 ông C đưa em trai về sống chung gia đình nên vợ chồng tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, đến tháng 02/2023 ông C và bà thỏa thuận bà đưa vốn làm ăn cho ông C ra riêng để bán, còn bà ở lại căn nhà của vợ chồng và chịu trách nhiệm nuôi con, sau đó ông C cất nhà cặp căn nhà của vợ chồng mua bán và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay ông C yêu cầu ly hôn với bà thì bà không đồng ý vì hiện tại nếu ly hôn sẽ ảnh hưởng tâm lý của bà, bà không lo cho các con của bà được.

Về con chung: Bà D thống nhất với ông C là vợ chồng có 03 con chung là Phạm Kim T, sinh năm 1994, Phạm Kim K, sinh năm 2001 và Phạm Thanh T1, sinh năm 2006, các con đã đủ tuổi trưởng thành nhưng hiện tại các con đang đi học và tôi là người phải bỏ tiền ra lo cho các con ăn học mỗi tháng tốn kém khoảng 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, ông C không đưa tiền cho bà nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu việc tuân theo pháp luật của Tòa án và quan điểm giải quyết vụ án: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông C đối với bà D, cho ông C và bà Dư ly H; về con chung: các con đã đủ tuổi trưởng thành phát triển bình thường, ông C và bà D không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết; về tài sản chung: Ông C và bà Dư tự thỏa thuận nên không đặt ra xem xét, giải quyết và về nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Ông C phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án; sau khi nghe ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, sau khi thảo luận Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu đã triệu tập bà Nguyễn Thị Ngọc D hợp lệ lần thứ hai, nhưng tại phiên tòa hôm nay bà D vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà D.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông C khởi kiện ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là bà D hiện đang cư trú tại ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Quan hệ hôn nhân: Ông C và bà D tự nguyện sống chung như vợ chồng vào năm 1994; có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, thị xã B, tỉnh Minh Hải (nay Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu) cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 01/01/1994 nên hôn nhân của ông C và bà D là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Ông Chính xác Đ, ông và bà D xảy ra nhiều mâu thuẫn, mỗi người có cách nhìn nhận, ứng xử trong đời sống vợ chồng, cách nuôi dạy con cái, cách làm ăn phát triển kinh tế gia đình, cách cư xử với người thân với nhau không phù hợp, tình cảm vợ chồng nhạt nhẽo dần, bà D không thương yêu quý trọng ông như trước, vào năm 2014 ông đã nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà D nhưng để tạo diều kiện vợ chồng hàn gắn tình cảm ông đã rút đơn khởi kiện. Sau đó thì ông và bà D tiếp tục phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông và bà D đã sống ly thân từ khi còn sống chung nhà, đến khoảng tháng 02/2023 thì ông dọn ra ngoài sống cho đến nay. Bà D xác định vợ chồng cũng có xảy ra nhiều mâu thuẫn, bà và ông C đã sống ly thân từ tháng 02/2023 đến nay nhưng bà không đồng ý ly hôn với ông C với lý do bà phải nuôi con cháu, các con đang học hành, nếu ly hôn ảnh hưởng đến tâm lý của bà, bà khó có thể lo cho các con cháu như hiện tại được. Hội đồng xét xử xét thấy, theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về tình nghĩa vợ chồng: "Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình". Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần mời các đương sự để hòa giải nhằm để tạo điều kiện cho các bên đương sự hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà D đều vắng mặt không có lý do và bà D cũng không có bất cứ động thái nào để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hôn nhân phải dựa trên cơ sở tự nguyện của cả vợ và chồng nhưng ông C và bà D đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, đã sống ly thân. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa bà D và ông C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông C, xử cho ông C được ly hôn với bà D.

[4] Về con chung: Ông Chính xác Đ, có 03 con chung là Phạm Kim T, sinh năm 1994, Phạm Kim K, sinh năm 2001 và Phạm Thanh T1, sinh năm 2006, các con đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà D cho rằng mặc dù các con đã đủ tuổi trưởng thành nhưng bà vẫn phải lo cho các con hàng tháng khoảng 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Ngoài ra, bà D xác định người con thứ hai đang bị bệnh trầm cảm. Xét thấy, việc bà D cho rằng cháu K bị bệnh trầm cảm nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh và ông Chính xác Đ cháu K vẫn phát triển bình thường. Do đó, có căn cứ xác định các con của ông C và bà D đã đủ tuổi trưởng thành có thể tự lo sống cho mình nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Ông C và bà D thống nhất tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình.

[8] Như đã phân tích, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ đề nghị của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Phạm Quốc C. Cho ông Phạm Quốc C được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc D.
  2. Về con chung: Ông Phạm Quốc C và bà Nguyễn Thị Ngọc D có 03 con chung là Phạm Kim T, sinh năm 1994, Phạm Kim K, sinh năm 2001 và Phạm Thanh T1, sinh năm 2006, các con đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển bình thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Ông Phạm Quốc C và bà Nguyễn Thị Ngọc D thống nhất tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về nợ chung: Ông Phạm Quốc C và bà Nguyễn Thị Ngọc D xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Ông Phạm Quốc C phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình. Ông Phạm Quốc C đã nộp tạm ứng 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0000280 ngày 03/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu nên chuyển thu án phí.
  6. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND thành phố Bạc Liêu;
  • - Chi cục THADS thành phố Bạc Liêu;
  • - Ủy ban nhân dân phường Nhà Mát, Tp Bạc Liêu;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HSVA, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Kiều Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 59/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ông C ly hôn với bà D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger