TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13/6/2025 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Thanh Quang
Các Hội thẩm nhân dân: 1/Nguyễn Văn Tới
2/ Đặng Văn Minh
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sáu - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/5/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 49/2025/QÐST-HNGĐ ngày 06/6/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phan Thị Kim A – Sinh năm 1979 (có mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Duy C – Sinh năm 1973 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn X, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 13/02/2025, bản khai của nguyên đơn bà Phan Thị Kim A khai: Bà và ông Nguyễn Duy C cưới nhau vào năm 1998, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 052 ngày 01/9/1998. Việc cưới nhau là do hai bên tự tìm hiểu. Sau khi cưới vợ chồng ông sống tại thôn X, xã H. Vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 27 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, không cùng quan điểm sống, thường xuyên cãi vả nhau, ông C hay nhậu nhẹt, đánh đập bà vô lý, bà đã cố gắng, hàn gắn hạnh phúc gia đình nhiều lần để nuôi dạy con cái nhưng không được. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của bà là yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Duy C. Về con chung: Vợ chồng có 03 con tên Nguyễn Duy C1 – sinh năm 2000, Nguyễn Diễm Q – sinh năm 2007 và Nguyễn Duy S – sinh ngày 17/6/2011, khi ly hôn bà yêu cầu giải quyết là cháu Nguyễn Duy C1 – sinh năm 2000, Nguyễn Diễm Q – sinh năm 2007 đã đủ 18 tuổi không yêu cầu giải quyết, còn lại cháu Nguyễn Duy S – sinh ngày 17/6/2011 bà xin được nuôi cháu S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tài sản và nợ không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Duy C khai: Qua lời trình bày của bà Phan Thị Kim A thì ông xác định là đúng. Vợ chồng cưới nhau năm 1998, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Việc cưới nhau là do hai bên tự tìm hiểu. Vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 22 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do năm 2021, bà A đưa thầy chùa về nhà ở đuổi ông ra khỏi nhà. Nay bà Phan Thị Kim A làm đơn ly hôn thì ông không đồng ý mà để giải quyết tài sản xong mới ly hôn.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Phan Thị Kim A. Bà Phan Thị Kim A được ly hôn với ông Nguyễn Duy C. Giao cháu Nguyễn Duy S – sinh ngày 17/6/2011 cho bà Phan Thị Kim A trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Phan Thị Kim A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Ông Nguyễn Duy C có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con với bị đơn. Đây là Tranh chấp về ly hôn, nuôi con. Bị đơn có địa chỉ tại xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2] Xét yêu cầu của các đương sự Hội đồng xét xử thấy rằng: Bà Phan Thị Kim A và ông Nguyễn Duy C cưới nhau vào năm 1998, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H là hôn nhân hợp pháp. Bà Phan Thị Kim A cho rằng sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 27 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do cả hai không hòa hợp nhau, không cùng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau và ông C hay nhậu nhẹt, đánh đập bà vô lý. Bà đã cố gắng hàn gắn hạnh phúc gia đình nhiều lần để nuôi dạy con cái nhưng không được. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của bà là yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Duy C. Bị đơn ông Nguyễn Duy C cho rằng chỉ đồng ý ly hôn khi bà Phan Thị Kim A phải giải quyết chia tài sản chung. Xét yêu cầu này thấy rằng trong quá trình giải quyết vụ án bà Phan Thị Kim A không yêu cầu chia tài sản nên Tòa án đã giải thích pháp luật cho ông C biết về việc yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung và ghi trong biên bản hòa giải sau 15 ngày nếu ông C không nộp đơn yêu cầu chia tài sản thì Tòa không xem xét giải quyết tài sản, quá 15 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải nhưng ông Nguyễn Duy C không làm Đơn khởi kiện phản tố chia tài sản và nộp các tài liệu chứng cứ liên quan đến tài sản chung, nợ chung, do chưa không thụ lý nên Tòa không xem xét giải quyết, nếu ông Nguyễn Duy C có yêu cầu giải quyết tài sản thì sẽ giải quyết chia tài sản chung sau khi ly hôn ở vụ án dân sự khác.
[3] Về tài sản: Ông Nguyễn Duy C cho rằng ông chỉ đồng ý ly hôn khi bà Phan Thị Kim A phải giải quyết chia tài sản chung. Xét yêu cầu này thấy rằng trong quá trình giải quyết vụ án bà Phan Thị Kim A không yêu cầu chia tài sản nên Tòa án đã giải thích pháp luật cho ông C biết về việc yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung và ghi trong biên bản hòa giải sau 15 ngày nếu ông C không nộp đơn yêu cầu chia tài sản thì Tòa không xem xét giải quyết tài sản, quá 15 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải nhưng ông Nguyễn Duy C không làm Đơn khởi kiện phản tố chia tài sản và nộp các tài liệu chứng cứ liên quan đến tài sản chung, nợ chung, do chưa không thụ lý nên Tòa không xem xét giải quyết, nếu ông Nguyễn Duy C có yêu cầu giải quyết tài sản thì sẽ giải quyết chia tài sản chung sau khi ly hôn ở vụ án dân sự khác.
[4]Về con chung: Bà Phan Thị Kim A và ông Nguyễn Duy C thống nhất có 03 con tên Nguyễn Duy C1 – sinh năm 2000, Nguyễn Diễm Q – sinh năm 2007 và Nguyễn Duy S – sinh ngày 17/6/2011, khi ly hôn cháu Nguyễn Duy C1 – sinh năm 2000 và Nguyễn Diễm Q – sinh năm 2007 đã đủ 18 tuổi không yêu cầu giải quyết, còn lại cháu Nguyễn Duy S – sinh ngày 17/6/2011 bà xin được nuôi cháu S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với nguyện vọng của cháu S và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Bà Phan Thị Kim A phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016. Ông Nguyễn Duy C không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phan Thị Kim A về việc yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Duy C. Bà Phan Thị Kim A được ly hôn với ông Nguyễn Duy C.
2.Về con chung : Giao cháu Nguyễn Duy S – sinh ngày 17/6/2011 cho bà Phan Thị Kim A trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Phan Thị Kim A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Ông Nguyễn Duy C có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
3. Về án phí: Bà Phan Thị Kim A phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Bà Phan Thị Kim A đã nộp đủ 300.000đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0014204 ngày 19/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên không nộp nữa.
Ông Nguyễn Duy C không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 13/6/2026).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ung Thanh Quang |
Bản án số 59/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 59/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn - tranh chấp nuôi con
