|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 59/2025/HNGĐ-ST Ngày: 11/6/2025. V/v tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Sửu
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Lê Thị Hường
- Ông Phạm Ngọc Minh
Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Yến Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 68/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025, về việc tranh chấp: "Ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐXX-ST, ngày 13-5-2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 57 ngày 28/5/2025 giữa.
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu T - sinh năm: 2001 (có mặt).
Địa chỉ: N, P, N, Ninh Thuận.
Bị đơn: Ông Trương văn H - sinh năm: 1988 (vắng mặt),
Địa chỉ: Khu phố A. Phước Dân, N, Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày: Bà T, ông H tự tìm hiểu về sống với nhau năm 2022, hai bên gia đình đồng ý có tổ chức lễ cưới có đến UBND thị trấn P làm giấy chứng nhận kết hôn.
Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc cho đến khoảng năm 2023 xảy ra mâu thuẫn.
Nguyên nhân mâu thuẫn là do chung sống thường xảy ra cãi vã không giàn xếp được dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng và sống ly thân từ tháng 2 năm 2025 cho đến nay không có trách nhiệm với nhau, không quan tâm đến nhau.
Nay bà T xét thấy tình cảm giữa bà với ông H không còn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông H.
Về con chung: Có 01 con chung tên Trương Ngọc A, sinh ngày 12/2/2023; hiện nay con chung bà T đang nuôi và bà yêu cầu được tiếp tục nuôi, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có..
Về thu nhập: Bà T khai làm thuê thu nhập mỗi tháng 7.000.000 đồng.
Về phía bị đơn: Tòa án phối hợp với chính quyền địa phương tống đạt các thông báo theo thủ tục tố tụng, nhưng ông H không có mặt tại Tòa án vào các lần triệu tập.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật, trong quá trình giải quyết vụ án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử phiên tòa dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước thực hiện đúng thủ tục tố tụng từ khi triệu tập, thụ lý, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, hòa giải và các thủ tục khác cũng được thực hiện đầy đủ đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự; kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Đối với nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật tố tụng dân sự tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà T được ly hôn ông H.
Về con chung: Đề nghị giao con chung cho bà T chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T không yêu cầu giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về quan hệ tranh chấp trong vụ án này là: "Ly hôn, nuôi con chung"
- Nội dung pháp luật áp dụng: Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Xét về hôn nhân: Bà Trần Thị Thu T, ông Trương Văn H tự tìm hiểu về chung sống năm 2022 có đến cơ quan cấp có thẩm quyền đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc cho đến năm 2023 xảy ra xích mích không giải quyết được dẫn đến mâu thuẫn kéo dài ngày càng trầm trọng sống ly thân, từ tháng 2 năm 2025 đến nay không quan tâm đến nhau, không có trách nhiệm với nhau.
Nay bà T xét thấy tình cảm giữa bà với ông H không còn, bà yêu cầu được ly hôn ông H là có căn cứ.
Qua xác minh chính quyền địa phương cho biết bà T, ông H đã sống ly thân.
Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà T, ông H cuộc sống chung không có hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà T xin ly hôn ông H là có căn cứ phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.
- Xét về con chung: Có 01 con chung tên Trương Ngọc A, sinh ngày 12/2/2023; hiện nay con chung bà T đang nuôi và bà yêu cầu được tiếp tục nuôi Hội đồng xét xử xét thấy từ nhỏ con chung được bà T chăm sóc đến nay tình cảm mẹ con khắng khít, gần gũi nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T.
Giao cho bà T nuôi con chung tên Trương Ngọc A, sinh ngày 12/2/2023 là, phù hợp pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, do nguyên đơn khai không có,
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T không yêu cầu giải quyết Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 bà T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ ý kiến, quan điểm về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 38, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 "hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí";
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Thu T, bà Trần Thị Thu T được ly hôn ông Trương Văn H.
Về con chung: Giao 01 con chung tên Trương Ngọc A, sinh ngày 12/2/2023 cho bà Trần Thị Thu T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng (hiện con chung bà T đang nuôi dưỡng).
Ông Trương Văn H có quyền đi lại thăm nom chăm sóc giáo dục con chung bà Trần Thị Thu T là người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông H trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Về cấp dưỡng: Ông Trương Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do bà T không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét do nguyên đơn khai không có.
Về án phí: Buộc bà Trần Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng bà T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0005227 ngày 17-3-2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, bà Trần Thị Thu T đã nộp đủ án phí.
Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt. Báo cho người có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11/6/2025). Riêng bị đơn được tính từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án theo thủ tục tố tụng.
|
- Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đoàn Sửu |
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Lê Thị H1; Phạm Ngọc Minh Đoàn S |
Bản án số 59/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 59/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
