Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HNGĐ-ST

Ngày 09 tháng 6 năm 2025.

V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trần Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Biên;

2. Bà Hoàng Thị Hồng.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Mai Loan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Nương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 174/2025/TLST-HNGĐ ngày 17/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 05/5/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2025/QÐST-HNGĐ ngày 23/5/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vi Thị Ngọc V, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thành Q, sinh năm 1987; nơi đăng ký HKTT: Số nhà E, đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; hiện không rõ nơi ở (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Vi Thị Ngọc V trình bày:

Chị kết hôn với ông Nguyễn Thành Q trên tinh thần tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND phường L (nay là phường T), thành phố B vào ngày 16/3/2016. Trước khi kết hôn, anh chị có thời gian tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn chung sống hòa thuận hạnh phúc, nhưng đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không còn hòa hợp, vợ chồng ly thân từ tháng 10/2019. Hiện nay anh Nguyễn Thành Q ở đâu, làm gì thì chị không biết. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn anh Nguyễn Thành Q.

Về con chung: Anh chị chưa có con chung.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Thành Q: Theo tài liệu và qua xác minh tại địa phương thì anh vẫn đăng ký hộ khẩu tại địa chỉ: Số nhà E, đường T, phường T, thành phố B cùng mẹ đẻ là bà Lý Thị H. Tuy nhiên, đã từ lâu anh Nguyễn Thành Q và bà Lý Thị H không còn sinh sống tại địa chỉ này. Nhà đất có địa chỉ này đã chuyển nhượng cho người khác. Hiện nay, anh Nguyễn Thành Q và bà Lý Thị H làm gì, ở đâu thì địa phương không rõ. Do đó, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đăng thông tin tìm kiếm anh Nguyễn Thành Q trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật và đã niêm yết các văn bản tố tụng, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải cũng như quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà theo đúng quy định của pháp luật, nhưng anh Nguyễn Thành Q vẫn vắng mặt, không có lý do và không có quan điểm thể hiện việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu quan điểm như sau:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử, xử:

- Cho chị Vi Thị Ngọc V được ly hôn anh Nguyễn Thành Q.

- Về án phí: Chị Vi Thị Ngọc V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, nhưng được trừ số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

1.1. Về quan hệ tranh chấp: Yêu cầu khởi kiện của đương sự là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình về “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang theo khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

1.2. Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Vi Thị Ngọc V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Thành Q đã được Tòa án đăng thông tin tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật, niêm yết triệu tập đến phiên tòa lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt đối với các đương sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị Ngọc V và anh Nguyễn Thành Q kết hôn từ ngày 16/3/2016, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố B, được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Nên xác định là hôn nhân hợp pháp.

Hiện tại vợ chồng đã ly thân, không còn chung sống cùng với nhau. Chị Vi Thị Ngọc V xác định tình vợ chồng không còn, nên xin được ly hôn. Anh Nguyễn Thành Q hiện không rõ làm gì, ở đâu, không có mặt tại Tòa án thể hiện quan điểm. Hội đồng xét xử thấy, đời sống chung không thể duy trì, cần áp dụng Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để xử cho chị Vi Thị Ngọc V ly hôn anh Nguyễn Thành Q.

[3]. Về con chung: Chị Vi Thị Ngọc V và anh Nguyễn Thành Q không có con chung, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4]. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không có yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc đương sự phải bàu án phí.

[6]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự để tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vi Thị Ngọc V được ly hôn anh Nguyễn Thành Q.

2. Về án phí: Chị Vi Thị Ngọc V phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang theo biên lai số: 0002460 ngày 17 tháng 3 năm 2025.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tp Bắc Giang;
  • - CCTHADS tp Bắc Giang ;
  • - UBND phường Trần Phú;
  • - Các đương sự.
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trần Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 59/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Vân ly hôn anh Quân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger