Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 59/2025/HN&GD-ST

Ngày: 04 - 6 - 2025

V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN DÂN NHÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lẫm.

- Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quốc Thắng.

Bà Đoàn Thị Kim Quyên.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Mi – Thư ký Tòa án nhân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 04 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 73/2025/TLST - HN&GĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 vụ án " Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 76/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Bùi Mỹ T, sinh năm: 1992.
  2. Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.

  3. Bị đơn: Ông La Văn C, sinh năm: 1990.
  4. Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 22/02/2025 và tại phiên toà nguyên đơn bà Bùi Mỹ T trình bày: Vào năm 2020 bà và ông La Văn C tổ chức lễ cưới, đến ngày 17/02/2022 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang, hôn nhân do bà và ông C tự nguyện. Bà và ông C chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông C không quan tâm lo lắng cho gia đình, tiền bạc ông C làm ra ông C không phụ giúp gia đình, mọi công việc gia đình do bà gánh vác, bà và ông C đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Do cuộc sống gia đình không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông C.

Về con chung: Có 01 con chung tên La Khải U (nam), sinh ngày 25/4/2022 con chung hiện nay do bà nuôi dưỡng, khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, chưa yêu cầu ông C cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông La Văn C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên chưa có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn bà Bùi Mỹ T có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bà Mỹ T. Đối với bị đơn ông La Văn C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông C.

[2] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Mỹ T và ông La Văn C tổ chức lễ cưới năm 2020 đến ngày 17/02/2022 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang theo đúng quy định nên hôn nhân giữa bà T và ông C là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận là vợ chồng. Bà T và ông C chung sống đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông C không quan tâm lo lắng cho gia đình, tiền bạc ông C làm ra ông C không phụ giúp gia đình, mọi công việc gia đình do bà gánh vác, bà và ông C đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Từ khi ly thân đến nay bà T và ông C không có thiện chí hàn gắn cuộc sống vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành hoà giải để hàn gắn cuộc sống vợ chồng giữa bà T và ông C nhưng ông C vắng mặt và bà T có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Điều đó cho thấy cuộc sống vợ chồng giữa bà T với ông C không thể hàn gắn, vợ chồng không còn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Bà T và ông C có một con chung tên La Khải U, sinh ngày 25/4/2022, con chung hiện nay do bà T nuôi dưỡng, khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, chưa yêu cầu ông C cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy cháu La Khải U đến thời điểm xét xử mới hơn 03 tuổi, từ khi ly thân năm 2023 đến nay cháu U do bà T nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu La Khải U cho bà T nuôi dưỡng là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, bà T chưa yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

[5] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

[6] Về nợ chung: Bà T khai không có nên không xem xét.

[7] Đương sự còn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[8] Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5, 28, 35, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Điều 9, 55, 57, 81, 82, 83, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Mỹ T. Cho bà Bùi Mỹ T được ly hôn với ông La Văn C.

Về con chung: Giao cháu La Khải U (nam), sinh ngày 25/4/2022 cho bà Bùi Mỹ T nuôi dưỡng. Ông La Văn C chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền, thăm, chăm sóc con chung cho ông La Văn C không ai có quyền cản trở.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Bà Bùi Mỹ T khai không có nên không xem xét.

Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Bùi Mỹ T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), chuyển 300.000 đồng bà T đã nộp theo biên lai thu số 0010561 ngày 28/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ thành án phí. Bà T đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn bà Bùi Mỹ T, bị đơn ông La Văn C được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - Các đương sự;
  • - VKSND h Long Mỹ;
  • - Chi cục THADS h Long Mỹ;
  • - UBND xã Vĩnh Thuận Đông;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Lẫm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HN&GD-ST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 59/2025/HN&GD-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger