Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/DS - ST

Ngày: 30 - 10 - 2025

V/v Tranh chấp hợp đồng lắp đặt

thang máy

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chỉnh.

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Phạm Thị Vĩnh .

Ông Vũ Văn Thi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Trí Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2025/TLST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng lắp đặt thang máy, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2025/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 66/2025/QĐST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trần Hữu Q, sinh năm 1982; địa chỉ: Số E Đ, phường G, thành phố Hải Phòng; người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn L - Luật sư Văn phòng L1; có mặt.

Bị đơn: Công ty Cổ phần T (Công ty H); địa chỉ: Số H N, phường A (nay là số I N, phường A), thành phố Hải Phòng; người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Minh Đ – Tổng giám đốc; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Quang K - Văn phòng L2; có mặt.

Người làm chứng:

  • - Anh Nguyễn Hoàng V; có mặt.
  • - Nguyễn Thành D; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày: Ngày 23/6/2023, anh Q và Công ty H do ông Phạm Minh Đ làm tổng giám đốc ký Hợp đồng kinh tế số 2306 với nội dung: Công ty H thực hiện việc cung cấp, lắp đặt 01 thang máy tự động cho ngôi nhà anh Q đang xây dựng tại địa chỉ số E (tái định cư điểm 3), tổ dân phố F, phường H, thành phố Hải Phòng. Chủng loại hàng hóa: Thang máy chở khách liên doanh hiệu H1 mới 100% (có phụ lục mô tả, bản vẽ kèm theo). Số lượng hàng hóa: 01 thang máy có tải trọng kiểm định 450kg/630kg; 5 điểm dừng, tốc độ 60m/phút. Thời gian bảo hành 12 tháng. Thời gian thực hiện công việc được hai bên thống nhất dự kiến từ 75 đến 90 ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng. Tổng giá trị của hợp đồng trọn gói là 358.000.000 đồng. Công ty H cung cấp thông số để xây hố thang chờ như sau: W1700mm (rộng) x D1900mm (sâu), sau dựng khung W1600mm x D1800mm. Ngoài ra, anh Q còn đặt Công ty H.D.A làm khung nhôm chuyên dụng cho thang máy với giá 130.000.000 đồng theo báo giá kiêm xác nhận đặt hàng ngày 21/8/2023.

Trên cơ sở đó anh Q đã yêu cầu bên thiết kế và bên thi công xây dựng hố chờ thang máy theo đúng yêu cầu của Công ty H để lắp đặt khung thang. Sau khi xây dựng hố chờ xong, anh Q đã mời bên thiết kế, bên xây dựng và Công ty H đến kiểm tra kích thước kỹ thuật của hố chờ. Các bên đều xác nhận kích thước hố chờ thang máy được xây dựng đúng yêu cầu, không ai có ý kiến gì. Nhưng khi Công ty H tiến hành lắp khung thang thì không thể lắp được với lý do hố chờ thang máy phải được xây có chiều rộng, rộng hơn 1700mm; chiều sâu, sâu hơn 1900mm và tự ý cắt đục dầm bê tông của tất cả các tầng làm trơ cả cốt thép và có chỗ cắt đứt cả thép chủ của rầm bê tông để lắp đặt khung thang. Thấy việc cắt đục như vậy sẽ làm ảnh hưởng đến kết cấu công trình nên anh Q đã yêu cầu Công ty H tháo khung thang đã lắp đặt. Ngày 15/11/2023, anh Q đã mời đại diện các bên thiết kế, thi công và Công ty H đến hiện trường cắt đục và lập biên bản ghi lại sự việc. Sau đó anh Q đã nhiều lần ra văn bản đề nghị Công ty H làm việc với các bên liên quan để có phương án giải quyết thì Công ty H không hợp tác. Khi anh Q yêu cầu Công ty H tiếp tục thực hiện việc lắp đặt thang máy thì Công ty H chỉ đồng ý với điều kiện anh Q phải trả chi phí đã tháo dỡ khung thang là 15.000.000 đồng và chi phí lắp đặt lại khung thang là 15.000.000 đồng, tổng cộng là 30.000.000 đồng nhưng anh Q không đồng ý vì chi phí này không có trong hợp đồng. Để đảm bảo kết cấu của công trình, anh Q đã cho thợ trát chít lại toàn bộ những chỗ Công ty H đã cắt đục để trở lại hiện trạng ban đầu và mời Văn phòng T1 ghi nhận kích thước hố chờ được xây dựng trước khi lắp đặt thang máy để làm cơ sở cho việc giải quyết tiếp theo. Ngày 12/12/2023, anh Q đã ký hợp đồng với Công ty Cổ phần H, địa chỉ tại số C đường B, phường L, thành phố Hải Phòng để lắp đặt thang máy. Loại thang: Tải khách hiệu DỤC ANH COMPANY ELEVATOR, L: 450kg-5stop-60m/phút. Sau đó Công ty H tiến hành lắp đặt thang máy đúng vào hố thang có sẵn mà không phải cắt đục phần bê tông hay gặp khó khăn gì.

Quá trình thực hiện hợp đồng, anh Q đã tạm ứng cho Công ty H tổng số tiền là 329.000.000 đồng. Do Công ty H cung cấp kính thước xây hố chờ thang máy không chính xác dẫn đến việc lắp đặt thang máy không đúng như thỏa thuận, nên anh Q khởi kiện yêu cầu Tòa án:

  • - Buộc chấm dứt Hợp đồng kinh tế số 2306 – 1906/HDA – HĐTM ngày 23/6/2023 giữa anh Q và Công ty H.
  • - Công ty H phải hoàn trả cho anh Q toàn bộ số tiền đã tạm ứng là 329.000.000 đồng, tiền phạt do vi phạm hợp đồng theo cam kết là 8% trên tổng giá trị hợp đồng là 28.640.000 đồng, tổng cộng là 357.640.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo pháp luật của Công ty H trình bày: Công ty H có ký hợp đồng lắp đặt thang máy với anh Q có trị giá 358.000.000 đồng và Báo giá kiêm xác nhận đặt hàng khung thang có giá trị hợp đồng 130.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh Q đã tạm ứng cho công ty tổng số tiền 329.000.000 đồng đúng như anh Q đã trình bày. Theo hợp đồng lắp đặt thang máy cũng như hồ sơ thiết kế và xây dựng hố thang máy, Công ty H yêu cầu anh Q phải thiết kế xây hố thang chờ như sau: W1700mm (rộng) x D1900mm (sâu), sau dựng khung W1600mm x D1800mm. Tuy nhiên Công ty có khuyến cáo anh Q phải thiết kế và xây dựng hố thang có kính thước: Chiều rộng là 1700mm+50mm; chiều sâu là: 1900mm +50mm để thuận lợi cho việc lắp đặt sau này nhưng anh Q đã thiết kế và xây dựng hố chờ thang máy không đúng theo khuyến cáo. Việc này anh V (thiết kế bản vẽ công trình) cũng đã thừa nhận qua tin nhắn dẫn đến việc khi lắp đặt khung thang Công ty H.D.A phải tiến hành cắt đục bê tông để lắp vừa khung thang, lỗi này thuộc về bên thiết kế và anh Q, không phải của Công ty.

Ngay sau khi Công ty H.D.A lắp đặt xong khung thang thì anh Q yêu cầu Công ty phải tháo dỡ toàn bộ khung thang xuống với lý do Công ty lắp sai. Vì bị bắt ép nên Công ty H buộc phải tháo xuống theo yêu cầu của anh Q. Trước đó Công ty H có thông báo với anh Q mọi chi phí tháo ra, lắp vào thì anh Q phải chịu toàn bộ chi phí khi kiểm tra đúng sai do đâu. Sau khi sự việc xảy ra, anh Q đã liên tiếp yêu cầu các bên liên quan họp để tìm ra nguyên nhân của vấn đề. Bên thiết kế bản vẽ đã đứng ra nhận trách nhiệm trên nhóm Z và nhận chịu thanh toán tiền tháo dỡ và lắp đặt lại khung thang là 30.000.000 đồng, nhưng khi Công ty H yêu cầu anh Q thanh toán chi phí này thì anh Q không đồng ý nên Công ty H không tiếp tục lắp đặt thang máy cho anh Q. Ngoài ra anh Q tạm ứng tiền cho Công ty H cũng không đúng như thỏa thuận trong hợp đồng. Nay anh Q có yêu cầu khởi kiện, Công ty H không đồng ý và yêu cầu anh Q tiếp tục thực hiện hợp đồng đã ký kết.

Những người làm chứng trình bày:

- Anh Nguyễn Hoàng V (thiết kế bản vẽ công trình) trình bày: Tháng 5 năm 2023, anh V và anh Q ký hợp đồng thiết kế căn nhà tại địa chỉ: Số E (tái định cư điểm C), tổ dân phố F, phường H, thành phố Hải Phòng với nội dung: Anh V chịu trách nhiệm thiết kế bản vẽ thi công căn nhà theo những thông tin và tiêu chí mà anh Q đưa ra. Theo thông tin anh Q cung cấp thì căn nhà có lắp đặt thang máy với kích thước hố thang chờ máy như sau: W1700mm (rộng) x D1900mm (sâu), sau dựng khung W1600mm x D1800mm. Đến khoảng giữa tháng 6 năm 2023, anh V đã hoàn thiện và bàn giao hồ sơ thiết kế thi công cho anh Q. Sau đó, anh chịu trách nhiệm giám sát tác giả đối với công trình (giám sát việc triển khai thi công công trình theo hồ sơ). Khoảng 4 đến 5 tháng sau (anh không nhớ chính xác), khi bên thi công đã xây xong phần thô của ngôi nhà thì anh Q gọi cho anh V cùng với bên thi công và công ty L3 thang máy đến tiến hành kiểm tra việc xây hố chờ tại các tầng để bên thang máy tiến hành lắp đặt thang máy. Kết quả kiểm tra các bên xác nhận đảm bảo đúng thiết kế, xây dựng để lắp đặt thang máy nhưng không tiến hành lập biên bản.

Sau một khoảng thời gian (anh không nhớ chính xác), anh Q tiếp tục gọi cho các bên đến gặp nhau và trao đổi về việc Công ty H đã tự ý đục đẽo bê tông tại phần cửa thang máy có vị trí ở hai bên góc (đục sâu vào rầm bê tông khoảng từ 3cm đến 6cm) làm trơ cả khung thép chịu lực, một số vị trí còn cắt cả sắt tại tầng 2, tầng 3, tầng 4 và tầng 5 để lắp đặt khung thang. Thấy vậy anh Q yêu cầu dừng lại do việc đục đẽo bê tông như vậy sẽ làm ảnh hưởng đến kết cấu của công trình. Ngày 15/11/2023, anh Q, anh D (bên xây dựng), anh Đ (thang máy) và anh V có lập biên bản hiện trường công trình xây dựng về việc hố chờ thang máy bị cắt đục bê tông nêu trên. Theo anh V thì việc bên thang máy cắt đục sắt, bê tông sẽ làm ảnh hưởng đến kết cấu của công trình xây dựng và sẽ làm kích thước thang máy lớn hơn thiết kế ban đầu nên anh Q không đồng ý để Công ty H tiếp tục lắp đặt thang máy. Sau đó sự việc diễn ra như thế nào thì anh V không rõ vì phần công việc của anh đã hoàn thành sau khi bên xây dựng xây dựng xong phần thô.

Theo anh V đánh giá việc công ty H phải đục đẽo bê tông, cắt gọt sắt dầm có thể là do Công ty H đã tính toán gia công phần khung thang máy lớn hơn so với thiết kế. Bởi vì thông thường, trước khi lắp đặt thang máy, công ty H sẽ kiểm tra hố chờ thang máy, đo đạc kích thước rồi sau đó tính toán gia công phần khung thang máy với kích thước phù hợp để lắp đặt.

- Anh Nguyễn Thành D (người thi công) trình bày: Tháng 7 năm 2023, anh D và anh Q ký hợp đồng xây dựng căn nhà tại địa chỉ: Số E (tái định cư điểm C), tổ dân phố F, phường H, thành phố Hải Phòng với nội dung: Anh D chịu trách nhiệm xây dựng căn nhà theo bản thiết kế của Công ty T2. Theo bản thiết kế thì căn nhà có lắp đặt thang máy với kích thước hố thang chờ máy như sau: W1700mm (rộng) x D1900mm (sâu), sau dựng khung W1600mm x D1800mm. Đến đầu tháng 11 năm 2023, khi phần xây dựng đã cơ bản hoàn thành, anh D đã thông báo cho: Anh Q, bên thiết kế công trình, bên lắp đặt thang máy (Công ty H) tiến hành kiểm tra việc xây hố chờ tại các tầng để bên thang máy tiến hành lắp đặt thang máy. Kết quả kiểm tra các bên xác nhận đảm bảo đúng thiết kế, xây dựng để lắp đặt thang máy nhưng không tiến hành lập biên bản.

Sau đó bên thang máy đưa người đến để lắp khung thang máy, những người lắp đặt thang máy đã tự ý đục đẽo bê tông tại phần cửa thang máy có vị trí ở hai bên góc (đục sâu vào rầm bê tông khoảng từ 3cm đến 6cm) làm trơ cả khung thép chịu lực, một số vị trí còn cắt cả sắt tại tầng 2, tầng 3, tầng 4 và tầng 5 để lắp đặt khung thang. Thấy vậy anh Q yêu cầu dừng lại do việc đục đẽo bê tông như vậy sẽ làm ảnh hưởng đến kết cấu của công trình. Sau đó anh D có thấy bên thang máy tháo khung thang đã lắp mang về (Bên thang máy tự tháo hay anh Q yêu cầu tháo ra mang về thì anh D không biết). Ngày 15/11/2023, anh Q, anh V (bên thiết kế), anh Đ (thang máy) và anh D có lập biên bản hiện trường công trình xây dựng về việc hố chờ thang máy bị cắt đục bê tông nêu trên. Sau đó anh Q có yêu cầu anh D trát chít lại những chỗ công ty H đã đục trơ sắt ra để đảm bảo chất lượng công trình. Anh Q có liên hệ với Công ty H để tiếp tục lắp đặt thang máy thì Công ty H yêu cầu anh Q phải chịu chi phí tháo dỡ và lắp đặt lại với tổng số tiền là 30.000.000 đồng nhưng anh Q không đồng ý. Đến đầu năm 2024, anh Quang thông B đã tìm được đơn vị lắp đặt thang máy mới là Công ty H. Sau đó Công ty H đem thang máy đến lắp đặt, khi lắp đặt không phải đục đẽo can thiệp vào hố chờ mà tiến hành lắp đặt ngay. Đối với các hình ảnh hố chờ trong Vi bằng chính là hố chờ anh D đã trát chít lại những phần Công ty H.D.A đã đục đẽo trơ sắt. Việc Công ty H đục đẽo như vậy sẽ ảnh hưởng đến kết cấu, chịu lực của công trình. Công ty H đã tự ý đục đẽo bê tông và không thông báo trước với anh Q và anh D biết.

- Anh Hoàng Văn C (Công ty H) trình bày: Ngày 12/12/2023, Công ty cổ phần H và anh Q ký hợp đồng lắp đặt thang máy cho căn nhà của anh Q tại địa chỉ: Số E (tái định cư điểm C), tổ dân phố F, phường H, thành phố Hải Phòng với nội dung và các thông số kỹ thuật đúng như trong Hợp đồng kinh tế đã ký kết với anh Q. Anh C cũng là người chịu trách nhiệm kỹ thuật lắp đặt thang máy tự động tại nhà anh Q. Khi tiến hành khảo sát và lắp đặt thì hố chờ thanh máy nhà anh Q đã được xây dựng xong với kích thước như sau: W1700mm (rộng) x D1900mm (sâu), sau dựng khung W1600mm x D1800mm, các phần đục, cắt gọt bê tông trước đó đã được trát chít lại. Sau đó Công ty H tiến hành lắp thang máy cho nhà anh Q đúng như thỏa thuận đã ký kết và không phải đục, cắt gọt phần bê tông. Hiện nay thang máy đã được các bên nghiệm thu bàn giao cho gia đình anh Q sử dụng.

Thông thường khi tiến hành ký kết hợp đồng lắp đặt thang máy, Công ty H phải cung cấp kích thước hố thang trước cho bên thiết kế và thi công. Sau khi kiểm tra kích thước hố chờ đúng như yêu cầu, Công ty H sẽ tiến hành lắp đặt thang máy. Nếu bên thiết kế và thi công đã xây hố thang theo đúng yêu cầu của Công ty H, nhưng khi lắp đặt mà bên thang máy phải cắt, đục bê tông để lắp khung thang thì đây là lỗi của bên thang máy do đã cung cấp kích thước xây hố chờ không đúng hoặc nhập thang máy không đúng với kích thước hố chờ đã cung cấp cho bên thiết kế và thi công. Các Công ty thang máy thường nhập khẩu các linh kiện chính từ nước ngoài như, động cơ, dây cáp vv, còn phần khung thang là do Công ty tự gia công hoặc đặt gia công trong nước.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:

- Về hợp đồng: Hợp đồng 2306 ngày 23/6/2023 và Báo giá kiêm đặt hàng ngày 21/8/2023 giữa anh Q và Công ty H là hợp đồng có hiệu lực và đang được thực hiện, nhưng anh Q lại đơn phương chấm dứt trước thời hạn và tự ý tìm đơn vị khác thay thế Công ty H. Do vậy nguyên đơn đã tự từ bỏ quyền yêu cầu tiếp tục hợp đồng với Công ty H. Mặt khác các thông báo mà nguyên đơn gửi cho Công ty H đều không có nội dung chấm dứt hợp đồng 2306, do vậy không có căn cứ theo quy định của pháp luật để yêu cầu Công ty H phải bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn.

- Về kích thước hố thang theo thiết kế xây dựng: Công ty H đã lập hồ sơ thiết kế xây dựng hố thang máy theo chuẩn quy định (kèm theo hợp đồng và báo giá kiêm đặt hàng) gửi anh Q. Anh đã thiết kế và xây dựng hố chờ thang máy theo dữ liệu đầu vào với chiều rộng là 1700mm, chiều sâu là 1900mm (sau khi dựng khung chiều rộng là 1600mm, chiều sâu là 1800mm). Trong khi đó lại bỏ qua khuyến cáo được ghi trong hồ sơ thiết kế phải xây rộng hơn phủ bì khung thép để tránh hiện tượng đục phá hố pit khi lắp khung thép, theo đó chiều rộng sẽ phải là 1700mm + 50mm và chiều sâu là 1900mm + 50mm. Việc này đã được anh V (bên thiết kế bản vẽ) thừa nhận là thiếu sót trên nhóm Zalo. Sau khi xây dựng xong, bên thi công chỉ bàn giao cho chủ đầu tư và Công ty H mà không lập thành biên bản. Việc xác định kích thước hố thang chỉ dựa vào lời khai của các bên liên quan là chưa có căn cứ, cơ sở để xác định kích thước có chuẩn như thông số của Công ty H hay không.

Từ những quan điểm và lập luận trên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc nguyên đơn phải tiếp tục thực hiện hợp đồng 2306 và báo giá kiêm đặt hàng đối với Công ty H, đồng thời phải thanh toán các chi phí phát sinh. Nếu không, đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để mời cơ quan giám định độc lập xác định rõ nguyên nhân đúng sai và lỗi do đơn vị nào gây ra để chịu trách nhiệm độc lập.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Hải Phòng phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng theo quy định của pháp luật, từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của đương sự, người làm chứng và các tài liệu Tòa án thu thập đã thể hiện: Ngày 23/6/2023, anh Q và Công ty H ký Hợp đồng kinh tế số 2306, ngoài ra hai bên có thỏa thuận về việc báo giá đặt hàng đối với khung thang máy tại Báo giá xác nhận kiêm đặt hàng ngày 21/8/2023 với nội dung: Công ty H thực hiện việc cung cấp, lắp đặt 01 thang máy tự động cho ngôi nhà anh Q đang xây dựng tại địa chỉ số E (tái định cư điểm 3), tổ dân phố F, phường H, thành phố Hải Phòng. Các hợp đồng này được lập thành văn bản và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về nội dung, hình thức. Các thỏa thuận trong hợp đồng đều phù hợp với quy định hiện hành nên là hợp đồng hợp pháp, do vậy làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty H không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết, nên anh Q có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, buộc Công ty H phải trả lại số tiền đã nhận và chịu phạt theo thỏa thuận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp hợp đồng lắp đặt thang máy giữa anh Q và Công ty H có địa chỉ tại phường A, thành phố Hải Phòng. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự. Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về hình thức và nội dung hợp đồng: Ngày 23/6/2023, anh Q và Công ty H ký kết hợp đồng lắp đặt thang máy tự động cho ngôi nhà anh Q đang xây dựng tại địa chỉ số E, tổ dân phố F, phường H, thành phố Hải Phòng với giá 358.000.000 đồng. Ngoài ra hai bên còn có thỏa thuận về việc báo giá đặt hàng đối với khung thang máy tại Báo giá xác nhận kiêm đặt hàng ngày 21/8/2023 có giá trị 130.000.000 đồng. Xét, việc ký hợp đồng lắp đặt thang máy và báo giá kiêm xác nhận đặt hàng giữa anh Q và Công ty H trên cơ sở tự nguyện và được lập thành văn bản. Các thỏa thuận trong hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành nên là hợp đồng có hiệu lực, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng.

- Về việc thực hiện hợp đồng: Căn cứ vào lời khai của đương sự, người làm chứng và các tài liệu Tòa án thu thập đã xác định: Theo thỏa thuận tại Hợp đồng kinh tế ngày 23/6/2023 và Hồ sơ thiết kế và xây dựng hố thang máy của Công ty H thì kích thước hố chờ thang máy của Công ty H yêu cầu thiết kế và xây dựng có chiều rộng là 1700mm, chiều sâu là 1900mm. Anh Q đã thực hiện đúng theo yêu cầu, đồng thời đã tạm ứng cho Công ty H tổng số tiền 329.000.000 đồng theo đúng thỏa thuận. Tuy nhiên khi tiến hành lắp đặt khung thang, Công ty H không lắp đặt được ngay và đã tự ý cắt đục phần bê tông, rầm thép làm ảnh hưởng đến kết cấu công trình xây dựng dẫn đến việc anh Q yêu cầu dừng việc lắp đặt. Đến khi anh Q yêu cầu Công ty H tiếp tục thực hiện việc lắp đặt thì Công ty H yêu cầu anh Q phải thanh toán thêm số tiền phát sinh là 30.000.000 đồng, nhưng anh Q không đồng ý nên mới ký hợp đồng với đơn vị lắp đặt thang máy mới.

Xét thấy, anh Q đã thiết kế, xây dựng kích thước hố thang chờ theo đúng yêu cầu của Công ty H. Trước khi lắp đặt khung thang máy, Công ty H đã cùng bên thiết kế, bên thi công và anh Q tiến hành kiểm tra việc xây hố chờ, kết quả các bên xác nhận đảm bảo đúng thiết kế để lắp đặt thang máy. Kết quả này cũng phù hợp với các nội dung đã được ghi nhận tại Vi bằng ngày 05/01/2024. Do vậy đủ cơ sở xác định Công ty H đã cung cấp kích thước xây hố thang chờ không phù hợp với kích thước thang máy lắp đặt, sau đó đã tự ý cắt, đục bê tông, rầm thép mà không báo trước làm ảnh hưởng đến kết cấu công trình xây dựng. Mặt khác khi anh Q đề nghị Công ty H tiếp tục lắp đặt thang máy thì Công ty H yêu cầu phải thanh toán thêm chi phí phát sinh là 30.000.000 đồng. Trong khi đó hai bên đã thỏa thuận chi phí trọn gói cho việc lắp đặt là 358.000.000 đồng nên Công ty H có nghĩa vụ hoàn tất việc lắp đặt và không có quyền yêu cầu anh Q thanh toán thêm phần chi phí phát sinh. Như vậy Công ty H đã vi phạm các nghĩa vụ, thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng lắp đặt thang máy.

Theo quy định tại phần 8.1 Điều 8 của hợp đồng thì bên A có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi bên B vi phạm mà không khắc phục... và có quyền yêu cầu bên B bồi thường toàn bộ giá trị thiệt hại thực tế do lỗi của bên B gây ra ... Tại Điều 10 của hợp đồng quy định phạt khi vi phạm hợp đồng thì bên B sẽ phải chịu phạt tiền không quá 8% giá trị thực tế của hợp đồng. Do vậy anh Q có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và buộc công ty H phải trả lại số tiền đã nhận tạm ứng và bị phạt do vi phạm với mức tối đa là 8% trên tổng giá trị của hợp đồng.

[3] Đối với việc Công ty H trình bày theo hồ sơ thiết kế và xây dựng hố thang của Công ty H đã khuyến cáo anh Q phải thiết kế hố chờ thang có kính thước: Chiều rộng là 1.700mm+50mm; chiều sâu là: 1.900mm+50mm và khi lắp đặt lại khung thang bên thiết kế chịu trách nhiệm chi trả chi phí là 30.000.000 đồng.

Xét thấy: Tại phần phần 1.I Hố thang của hồ sơ thiết kế và xây dựng hố thang của Công ty H có nghi: “Sai lệch chiều rộng đo từ trục đối xứng về mỗi bên không vượt quá + - 25mm”. Như vậy được hiểu, hố thang được phép xây dựng có kích thước với độ sai lệch là: Chiều rộng là 1700mm + - 50mm; chiều sâu là: 1900mm + - 50mm (có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn 50mm). Trong khi anh Q đã thiết kế và xây dựng hố thang có kích thước: Chiều rộng: 1700mm, chiều sâu: 1900mm là đúng với yêu cầu và phù hợp với khuyến cáo của Công ty H. Còn đối với chi phí tháo ra lắp lại khung thang máy là 30.000.000 đồng. Nếu bên thiết kế chịu chi phí này thì Công ty H yêu cầu bên thiết kế trả, anh Q không có nghĩa vụ chịu thêm chi phí này.

Đối với việc Công ty H trình bày anh Q thanh toán tiền tạm ứng cho Công ty H không đúng như thỏa thuận trong hợp đồng. Xét, theo thỏa thuận thì anh Q phải thanh toán tiền tạm ứng cho Công ty H làm bốn kỳ, trong đó tổng số tiền phải thanh toán đến kỳ thứ ba là 340.100.000 đồng. Mặc dù anh Q không thanh toán tiền đúng kỳ hạn nhưng đã tạm ứng cho Công ty H tổng số tiền 329.000.000 đồng (gần bằng số tiền theo thỏa thuận) và Công ty H không có ý kiến gì về việc thanh toán này nên được coi là đã đồng ý với anh Q về việc thanh toán tiền tạm ứng.

Đối với việc Công ty H yêu cầu anh Q tiếp tục thực hiện hợp đồng đã ký kết. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra thông báo yêu cầu giao nộp tài liệu chứng cứ và nộp tiền tạm ứng án phí nhưng Công ty H đều không thực hiện nên, Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu này.

[4] Đối với ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để mời cơ quan giám định độc lập xác định kích thước hố chờ thang máy, khung thang để làm rõ nguyên nhân đúng sai thuộc về ai, Hội đồng xét xử xét thấy: Việc anh Q xây dựng hố chờ thang máy có kích thước Chiều rộng: 1700mm, chiều sâu: 1900mm đã được thể hiện trong bản vẽ thiết kế, sau khi xây dựng đã được các bên kiểm tra xác nhận là đúng và được lập Vi bằng. Trước khi lắp khung thang, Công ty H cũng không có ý kiến gì về kích thước của hố thang. Do vậy việc ngừng phiên tòa để tiến hành giám định là không cần thiết, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chấm dứt Hợp đồng kinh tế số: 2306-1906/HDA- HĐTM ngày 23 tháng 6 năm 2023 giữa anh Q và Công ty H.

- Công ty H phải trả anh Q số tiền đã tạm ứng là 329.000.000 đồng, phạt do vi phạm hợp đồng theo các bên cam kết là 8% trên tổng giá trị hợp đồng tương ứng với số tiền: 358.000.000 đồng x 8% = 28.640.000 đồng. Tổng cộng Công ty H phải trả anh Q số tiền là: 329.000.000 đồng + 28.640.000 đồng = 357.640.000 đồng.

[5] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền: 357.640.000 đồng x 5% = 17.882.000 đồng. Trả lại anh Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92, 144; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 116, 117, 118, 119, 274; Điều 357, 402, 410, 413, 418, 419, 423, 427, 428, 468, 579, 580 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 6; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Chấm dứt Hợp đồng kinh tế số: 2306-1906/HDA- HĐTM ngày 23 tháng 6 năm 2023 giữa anh Trần Hữu Q và Công ty Cổ phần T.

Buộc Công ty Cổ phần T phải trả anh Trần Hữu Q tổng số tiền là: 357.640.000 đồng (Ba trăm năm mươi bẩy triệu, sáu trăm bốn mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Về án phí: Công ty Cổ phần T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 17.882.000 đồng (Mười bẩy triệu, tám trăm tám mươi hai nghìn đồng). Trả lại anh Trần Hữu Q 8.941.000 đồng (Tám triệu, chín trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận An Dương (này là Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 – Hải Phòng), theo biên lai số 0000258 ngày 08/5/2025.

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 2 – Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - Thi hành án dân sự;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Chỉnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/DS - ST ngày 30/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng lắp đặt thang máy

  • Số bản án: 59/2025/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng lắp đặt thang máy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án dân sự về tranh chấp Hợp đồng lắp đặt thang máy giữa anh Q và Cty HDA
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger