|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:59/2025/DS-ST Ngày: 27-6-2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảng
Ông Đào Mạnh Tiến
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Thanh Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 27/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 93/2025/TLST-DS ngày 06/02/2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-DS ngày 29/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2025/QÐST-DS ngày 23/5/2025, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 709/TB-TA ngày 28/5/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 (viết tắt là ngân hàng)
Địa chỉ: Tầng A và tầng B, Tòa nhà S, số A A, phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình T – Giám đốc Khối mạng lưới kinh doanh ngân hàng bán lẻ (Theo giấy ủy quyền số 226369.24 ngày 23/10/2024 của Tổng giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Q1).
Đại diện theo ủy quyền lại: Bà Nguyễn Thị H – Giám đốc thu hồi nợ trực tiếp và xử lý nợ Vùng Đông Hà N Khối mạng lưới kinh doanh ngân hàng bán lẻ (Theo giấy ủy quyền số 232679.24 ngày 23/10/2024 của giám đốc Khối mạng lưới kinh doanh ngân hàng bán lẻ).
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trương Đình T1, ông Nguyễn Ngọc Đ, ông Vũ Anh Q, bà Tạ Thu H1 (Ông Q có mặt)
Đều địa chỉ: Tầng D, Tòa nhà C, số D T, quận Đ, Thành phố Hà Nội
(Theo giấy ủy quyền số 129415.25 ngày 16/05/2025 của Giám đốc thu hồi nợ trực tiếp và xử lý nợ Vùng Đông Hà N Khối mạng lưới kinh doanh ngân hàng bán lẻ).
2. Bị đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1964 (vắng mặt).
Địa chỉ đăng ký thường trú: Tổ G, phường T (nay là tổ A, phường N), thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở hiện nay: Căn hộ A, tòa CT1A, Chung cư G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng cấp tín dụng cho bà Phạm Thị L theo hợp đồng tín dụng số 9179949.20 ngày 20/11/2020 và hợp đồng thế chấp số 1946154.20 ngày 20/11/2020. Cụ thể như sau: Số tiền vay: 420.000.000 đồng; Mục đích vay: Thanh toán mua 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Kona; Thời hạn vay: 96 tháng từ 22/11/2020 đến 21/11/2028; Lãi suất tại thời điểm giải ngân 8.9%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là lãi suất cơ sở theo sản phẩm trong kỳ + biên độ 3.5%/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 3 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm theo quy định của ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4.1%/năm; Trả nợ gốc: Hàng tháng vào ngày 25 mỗi tháng hoàn trả là: 4.375.000 đồng, số còn lại trả vào cuối kỳ; Trả nợ lãi: Vào ngày 25 hàng tháng.
Tài sản thế chấp là 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Kona, biển kiểm soát 98A-354.79 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 064419 do Phòng C Công an tỉnh B cấp ngày 12/11/2020. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 21/11/2020, ngân hàng đã giải ngân cho bà L với số tiền 420.000.000 đồng theo đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 9179949(1).20 ngày 21/11/2020 theo đúng yêu cầu của bà L và phù hợp với quy định tại hợp đồng tín dụng.
Trong thời gian thực hiện hợp đồng tín dụng, bà L đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để bà L trả nợ, nhưng bà L không trả, dẫn đến khoản nợ đã chuyển sang quá hạn.
Tiền nợ tính đến ngày 27/6/2025 của bà L là: 215.673.382 đồng, trong đó nợ gốc: 185.625.000 đồng, nợ lãi trong hạn 7.938.595 đồng, nợ lãi quá hạn 22.109.787 đồng.
Nay, ngân hàng yêu cầu bà L phải trả số tiền nợ gốc, nợ lãi nêu trên và tiếp tục phải chịu tiền lãi phát sinh đến ngày thực trả hết nợ. Trường hợp bà L không trả được nợ thì có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Quá trình giải quyết, Tòa án tiến hành hòa giải giữa các đương sự, xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp nhưng bị đơn không lên làm việc và không có quan điểm giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa:
Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tuân thủ đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- + Buộc bà L trả ngân hàng thương mại cổ phần Q1 số tiền tính đến ngày 27/6/2025 là: 215.673.382 đồng, trong đó nợ gốc: 185.625.000 đồng, nợ lãi trong hạn 7.938.595 đồng, nợ lãi quá hạn 22.109.787 đồng và toàn bộ tiền lãi phát sinh kể từ ngày 28/6/2025 cho đến ngày thực trả hết nợ.
- + Trường hợp bà L không trả hoặc trả không đầy đủ nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Kona, biển kiểm soát 98A-354.79.
- + Bị đơn phải chịu chi phí tố tụng theo quy định pháp luật và được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp nguyên đơn đang yêu cầu giải quyết phát sinh từ nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kết, bên vay không có tư cách pháp nhân, vay tiền với mục đích tiêu dùng nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại thành phố B nên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang giải quyết vụ án theo thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Theo các tài liệu nguyên đơn cung cấp, có đủ cơ sở xác định: Bà L có vay số tiền 420.000.000 đồng của ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số 9179949.20 ngày 20/11/2020 và đã được giải ngân toàn bộ số tiền vay theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 9179949(1).20 ngày 21/11/2020. Mặc dù, bà L không có quan điểm giải quyết vụ án nhưng nhận thấy hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ trên đều được lập, ký kết đúng quy định của pháp luật, của ngân hàng, đủ điều kiện có hiệu lực theo Điều 117 Bộ luật Dân sự.
Các bên thỏa thuận trả tiền nợ gốc, nợ lãi theo phương thức trả dần hàng tháng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà L đã vi phạm một trong các phân kỳ trả nợ nên ngân hàng có quyền yêu cầu thu hồi nợ trước hạn. Số tiền nợ gốc, nợ lãi ngân hàng yêu cầu bà L trả phù hợp với thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng.
Do vậy, cần căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự, Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng để chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi nợ gốc, nợ lãi của nguyên đơn với số tiền nợ tính đến ngày 27/6/2025 là 215.673.382 đồng, trong đó nợ gốc: 185.625.000 đồng, nợ lãi trong hạn 7.938.595 đồng, nợ lãi quá hạn 22.109.787 đồng và toàn bộ tiền lãi phát sinh kể từ ngày 28/6/2025 cho đến ngày thực trả hết nợ như theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa.
[4] Hợp đồng thế chấp số 1946154.20 ngày 20/11/2020 được lập thành văn bản, được công chứng, đăng ký thế chấp tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật nên có hiệu lực để thi hành giữa các bên. Theo quy định tại điều 1 của hợp đồng thế chấp trên, nghĩa vụ được đảm bảo theo hợp đồng là toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ của bà L tại ngân hàng. Do vậy, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của nguyên đơn hoàn toàn phù hợp với thỏa thuận của các bên tại hợp đồng thế chấp, quy định tại Điều 299, khoản 7 Điều 323 Bộ luật Dân sự nên có cơ sở để chấp nhận như theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa.
[5] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản 3.000.000đồng theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[6] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bà L thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí dân sự theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Cần căn cứ Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự để tuyên quyền kháng cáo cho đương sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 117, Điều 299, khoản 7 Điều 323, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự
Căn cứ Điều 99, Điều 100, Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng thương mại cổ phần Q1.
- Buộc bà Phạm Thị L trả ngân hàng thương mại cổ phần Q1 số tiền 215.673.382₫ (Hai trăm mười lăm triệu, sáu trăm bảy ba nghìn, ba trăm tám hai đồng) theo hợp đồng tín dụng số 9179949.20 ngày 20/11/2020 và đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 9179949(1).20 ngày 21/11/2020. Trong đó nợ gốc: 185.625.000đ (Một trăm tám lăm triệu, sáu trăm hai lăm nghìn đồng), nợ lãi trong hạn 7.938.595₫ (Bảy triệu, chín trăm ba tám nghìn, năm trăm chín lăm đồng), nợ lãi quá hạn 22.109.787đ (Hai mươi hai triệu, một trăm linh chín nghìn, bảy trăm tám bảy đồng).
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Phạm Thị L còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà Phạm Thị L phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
- Trường hợp, bà Phạm Thị L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng thương mại cổ phần Q1 thì ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là 01 (Một) xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, số loại: Kona, biển kiểm soát 98A-354.79 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 064419 do Phòng C Công an tỉnh B cấp ngày 12/11/2020.
- Bà Phạm Thị L được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả ngân hàng thương mại cổ phần Q1 số tiền 5.673.000đ (Năm triệu, sáu trăm bảy ba nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002335 ngày 06/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Bà Phạm Thị L phải chịu 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản. Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 được nhận lại số tiền trên sau khi bà Phạm Thị L nộp.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Hưng |
6
Bản án số 59/2025/DS-ST ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 59/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
