Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/DS-ST

Ngày: 15/4/2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lâm Văn Vô
  2. Ông Đoàn Hồng Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Nguyễn Thiên Kim – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5: Bà Nguyễn Thị Khánh Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 163/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2025/QĐST-DS, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S

Địa chỉ: Số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Nhật Kinh K, sinh năm 1987

Địa chỉ: Số B đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Văn bản ủy quyền số 3562/2024/UQ-TGĐ ngày 17/5/2024) (xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Lưu Văn H, sinh năm 1988

Địa chỉ thường trú: Số B Cư xá B, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Địa chỉ tạm trú: Số D đường A, Phường D, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Nguyên đơn – Ngân hàng TMCP S trình bày: Ngày 12/09/2017, ông Lưu Văn H đã ký với Ngân hàng TMCP S chi nhánh S1 Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - Các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Hạn mức tín dụng là 18.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 1.7%/ tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Lưu Văn H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 63.579.193 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Lưu Văn H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 68.491.257 đồng (Chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 06/8/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 16.885.956 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).

Tính đến ngày 13/3/2024, ông Lưu Văn H còn nợ các khoản sau:

  • Nợ gốc: 18.885.956 đồng
  • Lãi quá hạn: 9.571.533 đồng
  • Tổng cộng: 28.457.489 đồng

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông Lưu Văn H, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên ông Lưu Văn H vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.

Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S kính đề nghị Quý Toà giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn Lưu Văn H:

  1. Buộc ông Lưu Văn H phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 13/3/2024,
  • Nợ gốc: 18.885.956 đồng
  • Lãi quá hạn: 9.571.533 đồng
  • Tổng cộng: 28.457.489 đồng
  1. Ông Lưu Văn H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 14/3/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

* Bị đơn – ông Lưu Văn H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án mà không có lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Tại văn bản xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn có ông Nguyễn Nhật Kinh K là người đại diện theo ủy quyền xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lưu Văn H trả ngay một lần cho nguyên đơn số tiền tạm tính đến ngày 15/4/2025 là 32.464.083 đồng (Ba mươi hai triệu, bốn trăm sáu mươi bốn ngàn, không trăm tám mươi ba đồng), bao gồm nợ gốc: 16.885.956 đồng (Mười sáu triệu, tám trăm tám mươi lăm ngàn, chín trăm năm mươi sáu đồng) và nợ lãi quá hạn là 15.578.127 đồng (Mười lăm triệu, năm trăm bảy mươi tám ngàn, một trăm hai mươi bảy đồng).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án. Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 12/09/2017 của Ngân hàng mà hai bên đã xác lập và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với nguyên đơn, do đó đối với yêu cầu bị đơn trả số tiền là 32.464.083 đồng (Ba mươi hai triệu, bốn trăm sáu mươi bốn ngàn, không trăm tám mươi ba đồng), bao gồm nợ gốc: 16.885.956 đồng (Mười sáu triệu, tám trăm tám mươi lăm ngàn, chín trăm năm mươi sáu đồng) và nợ lãi quá hạn là 15.578.127 đồng (Mười lăm triệu, năm trăm bảy mươi tám ngàn, một trăm hai mươi bảy đồng) tính đến ngày 15/4/2024 là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn không phải chịu án phí, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ phát sinh từ quan hệ hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng xác lập giữa tổ chức tín dụng và cá nhân nên quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn là ông Lưu Văn H hiện đang cư trú tại Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân Quận 5 có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự nêu trên.

[2] Về việc giải quyết vắng mặt các đương sự:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc:

Nguyên đơn được phép hoạt động trong lĩnh vực tín dụng theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, mã số doanh nghiệp: 0301103908 do Phòng đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp. Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng được giao kết giữa hai bên có hình thức, nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên có giá trị pháp lý ràng buộc quyền, nghĩa vụ giữa các bên.

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 12/09/2017, đã được phê duyệt đính kèm Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, tóm tắt sao kê, thông báo vi phạm Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế, bảng chi tiết tính lãi mà nguyên đơn cung cấp, lời trình bày của nguyên đơn có cơ sở để xác định bị đơn đã được nguyên đơn đồng ý cấp thẻ tín dụng. Hai bên thỏa thuận về lãi suất, phí, phương thức thanh toán theo những điều khoản quy định tại Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Quá trình sử dụng thẻ, bị đơn đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền là 63.579.193 đồng, tuy nhiên bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, không thanh toán cho nguyên đơn tiền gốc và lãi. Ngày 06/08/2022, nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của nguyên đơn. Sau khi chuyển nợ quá hạn thì dư nợ gốc là 16.885.956 đồng.

Do vậy, xét việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán ngay toàn bộ nợ gốc 16.885.956 đồng là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3.2] Về yêu cầu thanh toán tiền nợ lãi: Đối với yêu cầu trả tiền lãi quá hạn là: 15.578.127 đồng (tạm tính đến ngày 15/4/2025) và buộc bị đơn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP S. Hội đồng xét xử xét thấy:

Điều 23 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của nguyên đơn quy định như sau “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của Chủ thẻ cho đến kỳ phát hành Thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo Hợp đồng. Trong trường hợp này, toàn bộ tổng dư nợ sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức và Chủ thẻ phải thanh toán... Khi sự kiện vi phạm xảy ra, Chủ thẻ hiểu và đồng ý rằng Đơn vị phát hành thẻ áp dụng lãi suất nợ quá hạn phù hợp với Điều 22 đối với toàn bộ dư nợ theo quy định của đơn vị phát hành thẻ”.

Điều 22 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của nguyên đơn quy định “Đơn vị phát hành thẻ có quyền sửa đổi mức lãi suất trong từng thời kỳ theo quyết định của mình mà không cần thông báo trước cho chủ thẻ”.

Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng đã được sửa đổi, bổ sung năm 2010, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 quy định như sau: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Căn cứ theo đề nghị và thu nhập của bị đơn, nguyên đơn đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cho bị đơn với hạn mức 18.000.000 đồng/tháng để tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 1.7%/tháng lãi suất trong hạn, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và các thông báo về việc thay đổi lãi suất và phí phát hành nhanh của thẻ tín dụng tại các thời kỳ xác định bị đơn trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với nguyên đơn. Xét trong quá trình thanh toán nợ cho Ngân hàng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và Ngân hàng TMCP S đã chuyển toàn bộ khoản nợ của ông Lưu Văn H sang nợ quá hạn kể từ ngày 06/08/2022 là phù hợp. Vì vậy việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi quá hạn tính từ ngày 06/08/2022 cho đến ngày xét xử sơ thẩm 15/4/2025 với tổng số tiền 15.578.127 đồng là có cơ sở chấp nhận phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng đã được sửa đổi, bổ sung năm 2010, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011. Tiền lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 16/4/2025 theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho đến khi bị đơn trả hết nợ.

[3.3] Về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự: Trong vụ án này, nguyên đơn xác định chỉ yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không yêu cầu ai cùng với bị đơn thực hiện nghĩa vụ dân sự. Đối chiếu quy định pháp luật cũng với những tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định số tiền bị đơn đã sử dụng phục vụ nhu cầu cá nhân nên không buộc ai phải cùng có trách nhiệm liên đới đối với khoản nợ của bị đơn.

[4] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể buộc bị đơn – ông Lưu Văn H phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S nợ gốc là 16.885.956 đồng và nợ lãi phát sinh tính đến ngày 15/4/2025 là 15.578.127 đồng, tổng cộng là 32.464.083 đồng (Ba mươi hai triệu, bốn trăm sáu mươi bốn ngàn, không trăm tám mươi ba đồng).

[5] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm tính trên số tiền phải thanh toán theo quy định pháp luật; nguyên đơn được hoàn lại tiền tạm ứng án phí.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 37, 39, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 280, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng đã được sửa đổi, bổ sung năm 2010, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011;

Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Thông báo số 15/TB-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc đính chính Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP S:

Buộc ông Lưu Văn H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ số tiền còn nợ tính đến ngày 15/4/2025 là 32.464.083 đồng (Ba mươi hai triệu, bốn trăm sáu mươi bốn ngàn, không trăm tám mươi ba đồng), bao gồm: nợ gốc là 16.885.956 đồng (Mười sáu triệu, tám trăm tám mươi lăm ngàn, chín trăm năm mươi sáu đồng); nợ lãi quá hạn là 15.578.127 đồng (Mười lăm triệu, năm trăm bảy mươi tám ngàn, một trăm hai mươi bảy đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Lưu Văn H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thi hành theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng đính kèm Bản Điều kiện và Điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S ngày 12/09/2017.

Các bên thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí:

Ông Lưu Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.623.204 đồng (Một triệu sáu trăm hai mươi ba ngàn, hai trăm lẻ bốn đồng).

Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 711.437 đồng (Bảy trăm mười một ngàn, bốn trăm ba mươi bảy đồng) theo Biên lai thu số 0020309 ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

4. Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

THẨM PHÁN

  • - TAND Tp. HCM;
  • - VKSND Tp. HCM;
  • - VKSND Quận 5;
  • - Chi cục THADS Quận 5;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Võ Thị Bích Trâm

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN




Lâm Văn Vô

Đoàn Hồng H1

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN




Võ Thị Bích T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/DS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 59/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger