Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/DS-PT

Ngày: 28/5/2025

“V/v Tranh chấp tài sản

thừa kế"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Từ
  • Các Thẩm phán: Ông Hồ Ngọc Tiếp, bà Phạm Thị Thúy Quỳnh
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 28/5/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý số 07/2025/TLPT-DS ngày 10/02/2025 về việc “Tranh chấp tài sản thừa kế”. Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2025/QĐXXPT-DS ngày 12/5/2025, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • * Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • Người kháng cáo: Người đại diện theo pháp luật của ông Nguyễn Ngọc Q, anh Nguyễn Ngọc C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Cha mẹ của bà Nguyễn Thị T là cụ Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1932, mất năm 2010 và cụ Nguyễn Thị N, sinh năm 1926, mất năm 2010. Cụ K cụ N sinh được 3 người con gồm: Bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Ngọc Q. Cụ K cụ N chết không để lại di chúc, có để lại di sản là thửa đất số 118, tờ bản đồ số 3, toạ lạc tại thôn G (nay là thôn Đ), xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An. Thửa đất này có nguồn gốc do cụ K cụ N khai hoang sử dụng từ năm 1954 nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Từ khi bà T sinh ra đến nay, bà T ở với cụ K cụ N trên mảnh đất này, bà T đã chăm sóc cụ K cụ N đến khi 2 cụ chết. Đối với bà Nguyễn Thị S, năm 1979, bà S lấy chồng về ở xã H, đến năm 1982 bà S ly hôn chồng nên về khai hoang 1 mảnh đất tại thôn G (Nay là thôn Đ), xã Đ gần cha mẹ để sinh sống. Còn ông Q, năm 1986 lấy vợ và ở trong nhà với cụ K cụ N, tuy nhiên, do vợ chồng ông Q ở trong nhà không hợp tính với cụ K cụ N nên gia đình đã bàn bạc đổi cho vợ chồng ông Q đến ở trên mảnh đất của bà S khai hoang, còn bà S về ở với cụ K cụ N, cùng với bà T chăm sóc cha mẹ. Đến năm 1990, cụ K cụ N cho bà S ra ở riêng trong vườn thuộc thửa đất số 118, bà S đã xây nhà trên 1 phần đất thuộc thửa đất 118 sinh sống cho đến nay. Còn vợ chồng ông Q sau khi chuyển đến sống trên mảnh đất của bà S khai hoang được một thời gian thì bán mảnh vườn này về quê vợ ở huyện T sinh sống được một thời gian lại tiếp tục quay về mua mảnh đất khác tại thôn Đ và hiện tại một mình ông Q sinh sống trên mảnh đất này.

Năm 2009, nhà nước đã thu hồi một phần diện tích đất khoảng gần 400m² của thửa đất 118 để làm đường giao thông. Phần đất còn lại của thửa đất số 118 thì bà S đã xây nhà và các công trình liền kề nhà kiên cố sử dụng từ năm 1990, đến năm 2016 xây lại nhà mới sử dụng ổn định cho đến nay. Còn bà T, sau khi cụ K và cụ N chết, thì năm 2011 bà T đã xây nhà và các công trình kiên cố trên phần diện tích đất còn lại sử dụng ổn định cho đến nay.

Năm 2022, bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị S làm hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thuộc thửa đất số 118 hiện nay bà T và bà S đang sử dụng nhưng ông Q bị bệnh không làm việc được. Nên bà T đã bàn bạc với vợ con ông Q thay mặt ông Q ký hồ sơ cấp bìa đỏ cho bà T và bà S nhưng anh Nguyễn Ngọc C là con trai của ông Q là đại diện cho ông Q yêu cầu bà T bà S trồng số tiền 1.000.000.000 đồng, sau đó hạ xuống 600.000.000 đồng thì mới thỏa thuận ký, bà T, bà S thương lượng số tiền 200.000.000 đồng nhưng anh C không đồng ý. Địa phương báo gọi hòa giải nhưng gia đình ông Q và anh C không đến làm việc.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T và bà S, bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Ngọc K và cụ Nguyễn Thị N để lại gồm: Thửa đất số 118, tờ bản đồ số 3 (Nay là thửa số 54 và 62, tờ bản đồ số 26), tại thôn G (nay là thôn Đ) xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An theo quy định của pháp luật. Bà T đề nghị Tòa án chia cho bà T sử dụng thửa đất số 62 và chia cho bà S sử dụng thửa đất số 54 và xét trích công sức duy trì, bảo vệ, tôn tạo làm tăng giá trị thửa đất cho bà Nguyễn Thị S và bà Nguyễn Thị T.

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Ngọc Q vắng mặt. Anh Nguyễn Ngọc C là người đại diện cho ông Nguyễn Ngọc Q trình bày:

Anh Nguyễn Ngọc C là con trai của ông Nguyễn Ngọc Q và bà Võ Thị L, do ông Q bị bệnh không đủ sức khỏe để tham gia giải quyết vụ án, còn bà L với ông Q đã sống ly thân nhau từ năm 1995. Nên bà L và các con của ông Q bà L thống nhất cử anh Nguyễn Ngọc C là con trai cả làm người đại diện cho ông Nguyễn Ngọc Q tham gia giải quyết vụ án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Ngọc Q.

Cha mẹ của ông Nguyễn Ngọc Q là cụ Nguyễn Ngọc K và cụ Nguyễn Thị N, đã chết năm 2010. Cụ K cụ N sinh được 3 người con gồm: Bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Ngọc Q. Cụ K cụ N chết không để lại di chúc, có để lại di sản là thửa đất số 118, tờ bản đồ số 3 (nay là thửa số 54 và 62, TBĐ số 26, hiện nay bà T và bà S đang quản lý, sử dụng), tại thôn G (thôn Đ), xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An.

Bà Nguyễn Thị T ở với cụ K cụ N trên mảnh đất này từ nhỏ, sau đó lấy chồng được khoảng vài năm thì ly hôn nên bà T về sống với 2 cụ đến khi 2 cụ chết, sau khi 2 cụ chết, bà T tiếp tục sử dụng cho đến nay. Còn bà S lấy chồng về ở xã H, sau đó ly hôn nên bà S về khai hoang 1 mảnh đất tại thôn G (Nay là thôn Đ), xã Đ để sinh sống. Đối với ông Q, năm 1986, ông Q lấy vợ nên gia đình đã bàn bạc đổi cho vợ chồng ông Q đến ở trên mảnh đất của bà S khai hoang, còn bà S về ở với cụ K cụ N, cùng với bà T. Đến năm 1990, cụ K cụ N cho bà S ra ở riêng trong vườn (Thửa 54) thuộc thửa đất số 118 cho đến nay. Còn vợ chồng ông Q sau khi chuyển đến sống trên mảnh đất của bà S khai hoang được một thời gian thì bán mảnh vườn này. Khoảng năm 1995 vợ chồng ông Q sống ly thân, mỗi người sống một nơi, nên ông Q mua mảnh đất khác tại thôn Đ và hiện tại một mình ông Q sinh sống trên mảnh đất này.

Nay bà Nguyễn Thị T yêu cầu chia di sản của cụ Nguyễn Ngọc K và cụ Nguyễn Thị N là thửa đất số 118 (Nay là thửa số 54 và 62), tại thôn Đ), xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An, thì trừ đất để làm nhà thờ, còn lại chia 3 phần cho bà S, ông Q và bà T. Nếu phần đất của ông Q được chia có công trình nhà của bà T, bà S thì yêu cầu bà T và bà S đập phá nhà để giao đất cho ông Q. Nếu bà S và bà T lấy toàn bộ đất thì trồng cho ông Q số tiền 1.000.000.000 đồng để ông Q làm nhà và làm nhà thờ. Ông Q không yêu cầu gì đối với tiền bồi thường do nhà nước thu hồi đất để làm đường, anh C không yêu cầu bà T trả tiền đi lại cho anh C trong thời gian giải quyết tranh chấp từ năm 2022 đến nay. Ông Q không có yêu cầu gì khác.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S trình bày: Thống nhất toàn bộ yêu cầu khởi kiện, lời khai, lời trình bày của bà Nguyễn Thị T trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà S không thay đổi, bổ sung gì thêm. Nay bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Ngọc K và cụ Nguyễn Thị N để lại gồm: Thửa đất số 118, tờ bản đồ số 3 (Nay là thửa số 54 và 62, tờ bản đồ số 26), tại thôn G (nay là thôn Đ) xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An theo quy định của pháp luật. Bà S đề nghị Tòa án chia cho bà T sử dụng thửa đất số 62 và chia cho bà S sử dụng thửa đất số 54 và xét trích công sức duy trì, bảo vệ, tôn tạo làm tăng giá trị thửa đất cho bà S và bà T theo quy định của pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn đã quyết định: Áp dụng Điều 612; Điều 613; Điều 623, Điều 649; Điểm a, khoản 1, Điều 650; điểm a, khoản 1, Điều 651; Khoản 2 Điều 660; Điều 274; khoản 2 Điều 53; Điều 58 Bộ luật dân sự; Khoản 5, Điều 26; Điểm a, khoản 1, Điều 35; Điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 165 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 26; Điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Ngọc K và cụ Nguyễn Thị N để lại.

1. Chia di sản của cụ Nguyễn Ngọc K và cụ Nguyễn Thị N để lại là: Thửa đất số 118, tờ bản đồ số 3 (Nay là thửa số 54 và 62, TBĐ số 26), tại thôn Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An, có vị trí: Phía Bắc giáp thửa ONT (46), phía nam giáp 402,7m² đất nằm trong chỉ giới giải phóng mặt bằng đường giao thông, phía đông giáp thửa đất ONT (55) và ONT 67, phía tây giáp đường giao thông, có diện tích: 823,2m², trong đó 300m² đất ở, 523,2m² đất vườn (Theo sơ đồ hiện trạng thửa đất do Văn phòng đăng ký đất đai huyện A, tỉnh Nghệ An đo đạc kèm theo Bản án), trị giá: 773.301.000 đồng theo pháp luật cho các đồng thừa kế gồm: Bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Ngọc Q. Trong đó, trích công sức duy trì, bảo vệ, tôn tạo làm tăng giá trị thửa đất cho bà Nguyễn Thị S và bà Nguyễn Thị T mỗi người bằng 1 suất di sản thừa kế.

2. Chia di sản của cụ Nguyễn Ngọc K và cụ Nguyễn Thị N để lại thành 05 suất, trong đó: Bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Ngọc Q mỗi người được hưởng 01 suất di sản trị giá: 154.660.200 đồng; Bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị S được hưởng trị giá công sức duy trì, bảo vệ, tôn tạo làm tăng giá trị thửa đất mỗi người 1 suất trị giá: 154.660.200 đồng. Tổng trị giá di sản thừa kế và trị giá công sức của bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị S được chia của mỗi người là: 309.320.400 đồng.

2.1. Chia cho bà Nguyễn Thị S sử dụng: 379,4 m² đất vườn ở, trong đó 150m² đất ở, 229,4m² đất vườn (Thửa đất số 54, TBĐ số 26), có vị trí: Phía Bắc giáp thửa ONT (46), phía nam giáp thửa đất ONT (62), phía đông giáp thửa đất ONT (55), phía tây giáp đường giao thông, tại thôn Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An (Theo sơ đồ hiện trạng thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện A, tỉnh Nghệ An đo đạc kèm theo Bản án) trị giá: 368.618.500 đồng. (Trên 379,4m² đất chia cho bà Nguyễn Thị S tọa lạc các công trình và các loại cây cối của bà Nguyễn Thị S).

2.2 Chia cho bà Nguyễn Thị T sử dụng: 443,8m² đất vườn ở, trong đó 150m² đất ở, 293,8m² đất vườn (Thửa đất số 62, TBĐ số 26), có vị trí: Phía Bắc giáp thửa ONT (54), phía nam giáp 402,7m² đất nằm trong chỉ giới giải phóng mặt bằng đường giao thông, phía đông giáp thửa đất ONT (67), phía tây giáp đường giao thông, tại thôn Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An (Theo sơ đồ hiện trạng thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện A, tỉnh Nghệ An đo đạc kèm theo Bản án), trị giá: 404.682.500 đồng (Trên 443,8m² đất chia cho bà Nguyễn Thị T tọa lạc các công trình và các loại cây cối của bà Nguyễn Thị T).

2.3. Bà Nguyễn Thị S có nghĩa vụ: Giao cho ông Nguyễn Ngọc Q số tiền chênh lệch về trị giá di sản là: 59.298.100 đồng.

2.4. Bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ: Giao cho ông Nguyễn Ngọc Q số tiền chênh lệch về trị giá di sản là: 95.362.100 đồng.

2.5 Ông Nguyễn Ngọc Q được chia trị giá di sản: Do bà Nguyễn Thị S và bà Nguyễn Thị T giao lại với tổng số tiền: 154.660.200 đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, lãi suất chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/9/2024, đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Ngọc Q kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét thẩm định và định giá lại thửa đất số 54 và 62 mà bà S và bà T đang sử dụng; xem xét và chia lại quyền thừa kế mảnh đất của ông Nguyễn Ngọc K và bà Nguyễn Thị N để lại; Trong quá trình xem xét và xử lý thì không ai được sử dụng và sinh sống trên mảnh đất 54 và 62 để thuận tiện cho việc thẩm định và định giá.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, người đại diện theo pháp luật của bị đơn anh Nguyễn Ngọc C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S đã thống nhất thỏa thuận như sau:

  • - Giao cho bà Nguyễn Thị S được quyền sử dụng thửa đất số 54, tờ bản đồ số 26, diện tích 379,4m², trong đó 150m² đất ở, 229,4m² đất vườn tại thôn Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An, có vị trí: Phía Bắc giáp thửa ONT (46), phía nam giáp thửa đất ONT (62), phía đông giáp thửa đất ONT (55), phía tây giáp đường giao thông (có sơ đồ kèm theo Bản án sơ thẩm) trị giá: 368.618.500 đồng. Trên đất chia cho bà Nguyễn Thị S có các công trình và cây cối của bà Nguyễn Thị S.
  • - Giao cho bà Nguyễn Thị T được quyền sử dụng thửa đất số 62, tờ bản đồ số 26, diện tích 443,8m², trong đó 150m² đất ở, 293,8m² đất vườn, tại thôn Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An, có vị trí: Phía Bắc giáp thửa ONT (54), phía nam giáp 402,7m² đất nằm trong chỉ giới giải phóng mặt bằng đường giao thông, phía đông giáp thửa đất ONT (67), phía tây giáp đường giao thông (có sơ đồ kèm theo Bản án sơ thẩm), trị giá: 404.682.500 đồng. Trên đất chia cho bà Nguyễn Thị T có các công trình và cây cối của bà Nguyễn Thị T.
  • - Bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị S có trách nhiệm giao cho ông Nguyễn Ngọc Q số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng).
  • · Về án phí đề nghị giải quyết theo pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, của các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Các đương sự đều có mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thống nhất thỏa thuận như sau:

  • [2.1] Giao cho bà Nguyễn Thị S được quyền sử dụng thửa đất số 54, tờ bản đồ số 26, diện tích 379,4m², trong đó 150m² đất ở, 229,4m² đất vườn tại thôn Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An, có vị trí: Phía Bắc giáp thửa ONT (46), phía nam giáp thửa đất ONT (62), phía đông giáp thửa đất ONT (55), phía tây giáp đường giao thông (có sơ đồ kèm theo Bản án sơ thẩm) trị giá: 368.618.500 đồng. Trên đất chia cho bà Nguyễn Thị S có các công trình và cây cối của bà Nguyễn Thị S.
  • [2.2] Giao cho bà Nguyễn Thị T được quyền sử dụng thửa đất số 62, tờ bản đồ số 26, diện tích 443,8m², trong đó 150m² đất ở, 293,8m² đất vườn, tại thôn Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An, có vị trí: Phía Bắc giáp thửa ONT (54), phía nam giáp 402,7m² đất nằm trong chỉ giới giải phóng mặt bằng đường giao thông, phía đông giáp thửa đất ONT (67), phía tây giáp đường giao thông (có sơ đồ kèm theo Bản án sơ thẩm), trị giá: 404.682.500 đồng. Trên đất chia cho bà Nguyễn Thị T có các công trình và cây cối của bà Nguyễn Thị T.
  • [2.3] Bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị S có trách nhiệm giao cho ông Nguyễn Ngọc Q số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng).
  • [2.4] Theo Biên bản xác minh tại UBND xã Đ, huyện A thì phần diện tích tăng thêm của thửa đất số 118, tờ bản đồ số 3 (nay là thửa đất số 54 và 62, tờ bản đồ số 26, tại thôn Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An là do sai số trong quá trình đo đạc, không có tranh chấp, lấn chiếm. Do đó, xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của Luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

[3] Về án phí: Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên các đương sự phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và các đương sự phải chịu án phí sơ thẩm đối với giá trị tài sản mà mình được hưởng. Tuy nhiên, ông Nguyễn Ngọc Q và bà Nguyễn Thị S là người cao tuổi có đơn đề nghị miễn án phí nên căn cứ Nghị quyết 326-NQ/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ quốc hội miễn án phí dân sự phúc thẩm và dân sự sơ thẩm cho ông Q, bà S.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

  1. Giao cho bà Nguyễn Thị S được quyền sử dụng thửa đất số 54, tờ bản đồ số 26, diện tích 379,4m², trong đó 150m² đất ở, 229,4m² đất vườn tại thôn Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An, có vị trí: Phía Bắc giáp thửa ONT (46), phía nam giáp thửa đất ONT (62), phía đông giáp thửa đất ONT (55), phía tây giáp đường giao thông (có sơ đồ kèm theo Bản án sơ thẩm) trị giá: 368.618.500 đồng. Trên đất chia cho bà Nguyễn Thị S có các công trình và cây cối của bà Nguyễn Thị S.
  2. Giao cho bà Nguyễn Thị T được quyền sử dụng thửa đất số 62, tờ bản đồ số 26, diện tích 443,8m², trong đó 150m² đất ở, 293,8m² đất vườn, tại thôn Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An, có vị trí: Phía Bắc giáp thửa ONT (54), phía nam giáp 402,7m² đất nằm trong chỉ giới giải phóng mặt bằng đường giao thông, phía đông giáp thửa đất ONT (67), phía tây giáp đường giao thông (có sơ đồ kèm theo Bản án sơ thẩm), trị giá: 404.682.500 đồng. Trên đất chia cho bà Nguyễn Thị T có các công trình và cây cối của bà Nguyễn Thị T.
  3. Bà Nguyễn Thị S và bà Nguyễn Thị T có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
  4. Bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị S có trách nhiệm giao cho ông Nguyễn Ngọc Q số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng).
  5. Ông Nguyễn Ngọc Q được sở hữu số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) do bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị S giao.
  6. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Ngọc Q. Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm và 20.187.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng bà T phải chịu 20.487.000 đồng (Hai mươi triệu, bốn trăm tám mươi bảy ngàn đồng) án phí.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND huyện Anh Sơn;
  • - Chi cục THADS h. Anh Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, TDS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Từ

Hồ Ngọc Tiếp

Phạm Thị Thúy Quỳnh

Nguyễn Thị Thu Từ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/DS-PT ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp tài sản thừa kế

  • Số bản án: 59/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger